TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Brian Skerry

Cá heo mõm dài

Tên tiếng Anh: Spinner dolphin
Tên Latin: Stenella longirostris
Đồng danh: Delphinus stenorhynchus Gray, 1866
Đồng danh: Fretidelphis roseiventris Iredale & Troughton, 1934
Đồng danh: Pomatodelphis stenorhynchus (Holl, 1829)
Đồng danh: Champsodelphis longirostris Keferst, 1834
Tên khác: Cá heo quay
  • Độ cao so mặt nước biển 1 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

CÁ HEO MÕM DÀI

Stenella longirostris (Gray, 1828)
Delphinus stenorhynchus Gray, 1866
Fretidelphis roseiventris Iredale & Troughton, 1934
Pomatodelphis stenorhynchus (Holl, 1829)
Champsodelphis longirostris Keferst, 1834
Họ: Cá heo Delphinidae

Bộ: Cá voi Cetacea

Đặc điểm nhận dạng:
Cơ thể có dạng thuôn dài và mảnh dẻ, mõm nhỏ và dài. Vây lưng nhỏ, hình tam giác, đứng thẳng ở giữa lưng và hơi cong về phía sau. Vây bơi nhỏ, mảnh dẻ và uốn cong về phía sau, chóp hơi nhọn. Vây đuôi cỡ trung bình, hơi lõm ở gần hai bên rìa và có khía ở giữa. Thường có 3 vùng màu sắc rất rõ: màu xám đen về phía lưng, màu xám sáng ở hai bên lườn và màu trắng phía mặt bụng. Phía trên của mõm và hai môi màu đen, phía dưới mõm màu trắng. Thường có một vệt màu đậm chạy từ gốc trên mõm qua mắt và đến gốc vây bơi. Con trưởng thành có kích thước từ 2 – 2,4 mét, con đực thường lớn hơn con cái; con mới sinh dài từ 75 – 80 cm. Có từ 45 – 62 đôi răng nhỏ và nhọn trên mỗi hàm.
Sinh học, sinh thái:
Mùa sinh sản chính từ cuối xuân đến mùa thu. Chúng thường ăn vào ban đêm, thức ăn chính là các loại cá và mực sống ở tầng giữa và thường theo các đàn Cá thu để kiếm ăn, nên thường bị mắc lưới đánh cá của ngư dân.
Thường sống thành đàn từ vài chục con đến vài trăm con, đôi khi chúng đi chung đàn với Cá heo đốm. Chúng thích nhào lộn và thường xoay người trên không trước khi rơi lưng xuống nước.
Phân bố:
Trong nước: Vịnh Bắc Bộ:, Khánh Hoà, Ninh Thuận, Bình Thuận, Bà Rịa – Vũng Tàu và Côn Đảo, Kiên Giang.
Nước ngoài: Vùng biển ấm từ 30o vĩ độ Bắc đến 30o vĩ độ Nam.
Giá trị:
Có giá trị lớn về mặt khoa học, thẩm mỹ và là nguồn gen quí hiếm để nghiên cứu các loài thú biển trong tự nhiên, dùng làm tiêu bản sống phục vụ học tập, nghiên cứu cho học sinh, sinh viên. Có thể nuôi làm cảnh ở các Trung tâm bảo tồn để phục vụ du lịch. Ngoài ra Cá heo bụng trắng còn giúp cân bằng sinh thái tự nhiên.
Tình trạng:
Trước 1995, có phát hiện loài này mẫu vật chết ở vùng biển Khánh Hòa và Ninh Thuận. Sau đó tìm thấy chúng đang sống theo đàn ở vịnh Bắc Bộ:, vài con bị mắc lưới đánh cá ở vùng biển Bà Rịa – Vũng Tàu và phía đông nam Côn Đảo. Tuy nhiên theo ngư dân thường xuyên đánh cá trên biển thì Cá heo nói chung càng ngày gặp càng ít do các hoạt động của con người làm quấy rối nơi cư trú, cạnh tranh thức ăn…. bị mắc lưới và bị bắt lấy thịt câu Cá mập. Ước tính diện tích phân bố trước năm 1995 khoảng 20.000km2 ; hiện nay còn khoảng 15.000km2 và số lượng bị giảm sút rõ rệt.
Biện pháp bảo vệ:
Không săn bắt Cá heo nói chung để lấy thịt câu Cá mập hoặc làm thực phẩm. Nếu phát hiện chúng bị mắc cạn thì tìm cách cứu chữa và đưa chúng ra khơi.

Tài liệu tham khảo: Sách đỏ Việt Nam 2010 – phần động vật – trang 32.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae