TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phạm Thế Cường-Nguyễn Thiên Tạo

Cá cóc ziegler

Tên tiếng Anh: Ziegler's knobby newt
Tên Latin: Tylototriton ziegleri
Đồng danh: Echinotriton asperrimus (Unterstein,1930)
Đồng danh: Echinotriton asperrimus (Unterstein,1930)
Đồng danh: Echinotriton asperrimus (Unterstein,1930)
Đồng danh: Echinotriton asperrimus (Unterstein,1930)
Tên khác:
  • Độ cao so mặt nước biển 1600 M
  • Mã định danh003
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

CÁ CÓC ZIEGLER

Tylototriton ziegleri Nishikawa, Matsui & Nguyen, 2013
Echinotriton asperrimus (Unterstein,1930)
Họ: Cá cóc Salamandridae
Bộ: Có đuôi Caudata

Đặc điểm nhận dạng:
Loài Cá cóc thuộc bộ Có đuôi Caudata có kích thước trung bình, chiều dài mút mõm đến hậu môn khoảng 54 – 68 mm ở con đực, 71 mm ở con cái; da nhám với các nốt sần rất nhỏ; gờ xương trên đầu rõ rệt; gờ da giữa sống lưng nổi rõ, tạo bởi một hàng các nốt sần lớn; nốt sần bên sườn rõ; chân dài và mảnh, mút ngón tay và ngón chân vượt xa nhau khi gập dọc thân; đuôi mảnh; mặt trên lưng màu nâu sẫm hoặc đen; nốt sần bên sườn, mút ngón tay và ngón chân màu cam; củ bàn, vùng hậu môn và mép dưới đuôi màu cam.
Sinh học, sinh thái:
Sống ở các vực nước (ao, vũng…), nơi có nhiều bùn và lá mục, trong rừng kín tán trên núi đá vôi ở độ cao 800 – 1.200m. Thức ăn gồm côn trùng và ấu trùng của các loài giun đất, nhện, sên và những loài không xương sống nhỏ khác. Sinh sản vào đầu mùa xuân, nòng nọc gặp ở các vũng vào tháng 6 – 7. Hết giai đoạn sinh sản, con trưởng thành chuyển lên sống trên cạn, dưới tán rừng.
Phân bố:
Trong nước: Loài đặc hữu của Việt Nam được phát hiện và công bố năm 2013 sau một thời gian dài lẫn với loài Cá cóc sần Echinotriton asperimus ở Hà Giang (Quản Bạ, Bắc Quang, Bắc Mê, Đồng Văn), Cao Bằng (Nguyên Bình, Bảo Lạc), Tuyên Quang (Na Hang). Loài có vùng phân bố hẹp ở những dãy núi cao thuộc tỉnh Hà Giang và Cao Bằng. Loài mới được vinh danh giáo sư, Dr. Thomas Ziegler (Vườn thú Cologne, CHLB Đức), người có nhiều đóng góp trong nghiên cứu và bảo tồn đa dạng sinh học ở Việt Nam.
Nước ngoài: Không có dẫn liệu.
Giá trị:
Có giá trị lớn về mặt khoa học, thẩm mỹ và là nguồn gen quí hiếm để nghiên cứu tiến hóa của các loài Lưỡng cư có đuôi Caudata trong tự nhiên, dùng làm tiêu bản sống phục vụ học tập, nghiên cứu cho học sinh, sinh viên. Có thể nuôi làm cảnh ở các Trung tâm bảo tồn để phục vụ du lịch.
Tình trạng: 
Loài này hiện chỉ ghi nhận ở các tỉnh Hà Giang, Cao Bằng và Tuyên Quang Diện tích vùng phân bố (EOO) ước tính khoảng 4.350 km2; số điểm ghi nhận phân bố là 3; sinh cảnh sống của loài đã và đang bị thu hẹp, suy thoái do tác động của các hoạt động khai thác khoáng sản, khai thác lâm sản, xâm lấn đất rừng làm đất canh tác nông nghiệp.
Phân hạng: EN B1ab(iii).
Biện pháp bảo vệ:
Loài này có tên trong Nghị định 84/2021/NĐ-CP của Chính phủ và Phụ lục II CITES. Một phần vùng phân bố của loài nằm trong Khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Mê (Hà Giang) và Vườn quốc gia Phia Oắc – Phia Đén (Cao Bằng) nên được bảo vệ. Tuy nhiên vẫn cần thiết phải bảo vệ sinh cảnh sống của loài trong tự nhiên. Tuyên truyền nhằm hạn chế tác động đến sinh cảnh sống của loài. Kiểm soát việc săn bắt và buôn bán loài này ở trong và ngoài nước. Nghiên cứu về phân bố, đặc điểm sinh học, sinh thái và đánh giá quần thể để đưa ra các khuyến nghị đối với công tác bảo tồn. Có thể tiến hành nhân nuôi bảo tồn.

Mô tả loài: Nguyễn Quảng Trường, Nguyễn Thiên Tạo, Phùng Mỹ Trung, Phạm Thế Cường – WebAdmin.

  • Documentation and reference sources:003

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae