TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Cá cóc việt nam

Tên tiếng Anh: Vietnamese crocodile newt
Tên Latin: Tylototriton vietnamensis
Đồng danh: Echinotriton asperrimus (Unterstein,1930)
Đồng danh: Echinotriton asperrimus (Unterstein,1930)
Đồng danh: Echinotriton asperrimus (Unterstein,1930)
Đồng danh: Echinotriton asperrimus (Unterstein,1930)
Tên khác: Cá cóc yên tử
  • Độ cao so mặt nước biển 980 M
  • Mã định danh003
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

CÁ CÓC VIỆT NAM

Tylototriton vietnamensis Bohme et al., 2005
Echinotriton asperrimus (Unterstein,1930)
Họ: Cá cóc Salamandridae
Bộ: Có đuôi Caudata

Đặc điểm nhận dạng:
Có thân thuôn dài, có 4 chân, chân trước 4 ngón, chân sau 5 ngón, đuôi dẹt bên, dài thân trung bình 50mm. Đầu sa giông dẹt, mõm ngắn, tày gần như vuông, da sần sùi, gờ sống lưng nổi rõ. Mỗi bên sườn có một hàng củ lồi, mỗi củ tương ứng với đầu mỗi xương sườn. Toàn thân xám thẫm (nhiều cá thể gần như đen), bụng sáng hơn lưng, con non có mầu vàng giống mầu đất sét. Đầu các chi, mép dưới đuôi, viền lỗ hậu môn có mầu đỏ cam (các củ lồi bên sườn và mép trên đuôi ở nhiều cá thể cũng có mầu đỏ cam).
Sinh học, sinh thái:
Sống ở các vực nước (ao, vũng…) có nhiều bùn và lá mục, trong rừng kín tán trên núi ở độ cao 250 – 300m. Thức ăn gồm côn trùng và ấu trùng của chúng, giun đất, nhện, sên và những loài không xương sống nhỏ khác. Sinh sản vào đầu mùa xuân, nòng nọc gặp ở các vũng vào tháng 6 – 7, nhiều con đã hoàn thành giai đoạn biến thái vào tháng 9 – 10. Nòng nọc của sa giông ở giai đoạn đầu có mầu nâu sáng, nhiều con trong suốt với nhiều đốm sẫm ở phần đuôi. Mang ngoài của nòng nọc mầu da cam có 3 thuỳ ở mỗi bên. Khi mầu sắc mang nhạt dần, ngắn lại chuyển sang giai đoạn tiêu biến mang thì nòng nọc có mầu đen sẫm. Hết giai đoạn sinh sản, con trưởng thành chuyển lên sống trên cạn, dưới tán rừng.
Phân bố:
Trong nước: Bắc Giang (Tây Yên Tử), Lạng Sơn (Mẫu Sơn) Quảng Ninh (Yên Tử, Đồng Sơn – Kỳ Thượng).
Nước ngoài: Loài đặc hữu chỉ có ở Việt Nam.
Giá trị:
Loài mới công bố năm 2005 sau một thời gian dài nhần lẫn với loài Cá cóc sần Echinotriton asperimus. Có giá trị lớn về mặt khoa học, thẩm mỹ và là nguồn gen quí hiếm để nghiên cứu tiến hóa của các loài Lưỡng cư có đuôi Caudata trong tự nhiên, dùng làm tiêu bản sống phục vụ học tập, nghiên cứu cho học sinh, sinh viên. Có thể nuôi làm cảnh ở các Trung tâm bảo tồn để phục vụ du lịch.
Tình trạng:
Doài này hiện chỉ ghi nhận ở các tỉnh Bắc Giang, Lạng Sơn và Quảng Ninh. Diện tích vùng phân bố (EOO) ước tính khoảng 1.500 km2; số địa điểm ghi nhận phân bố là 3; loài này là đối tượng bị săn bắt làm dược liệu và buôn bán làm sinh vật cảnh; sinh cảnh sống của loài đã và đang bị thu hẹp, suy thoái do tác động của các hoạt động khai thác than, khai thác lâm sản, xâm lấn đất rừng để canh tác nông nghiệp và phát triển du lịch.
Phân hạng: EN B1ab(iii).
Biện pháp bảo vệ:
Loài này có tên trong Nghị định 84/2021/NĐ-CP của Chính phủ và Phụ lục II CITES. Một phần vùng phân bố của loài nằm trong Khu bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn – Kỳ Thượng (Quảng Ninh) và Khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử (Bắc Giang) nên được bảo vệ. Tuy nhiên vẫn cần thiết bBảo vệ sinh cảnh sống của loài trong tự nhiên. Tuyên truyền nhằm hạn chế tác động đến sinh cảnh sống của loài. Kiểm soát việc săn bắt và buôn bán loài này ở trong và ngoài nước. Nghiên cứu về phân bố, đặc điểm sinh học, sinh thái và đánh giá quần thể để đưa ra các khuyến nghị đối với công tác bảo tồn. Có thể tiến hành nhân nuôi bảo tồn.

Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam 2023 – phần động vật – trang 260.

  • Documentation and reference sources:003

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae