Cá cóc việt nam
| Tên tiếng Anh: | Vietnamese crocodile newt |
|---|---|
| Tên Latin: | Tylototriton vietnamensis |
| Đồng danh: | Echinotriton asperrimus (Unterstein,1930) |
| Đồng danh: | Echinotriton asperrimus (Unterstein,1930) |
| Đồng danh: | Echinotriton asperrimus (Unterstein,1930) |
| Đồng danh: | Echinotriton asperrimus (Unterstein,1930) |
| Tên khác: | Cá cóc yên tử |
- Độ cao so mặt nước biển 980 M //php } ?>
- Mã định danh003
- Xác định bởiPhùng Mỹ Trung
- Phân bố Việt Nam Cao Bằng Bắc Giang Lào Cai Nghệ An Khu bảo tồn loài – sinh cảnh Mẫu Sơn, Lạng Sơn Khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử, Bắc Giang Khu bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn - Kỳ Thượng, Quảng Ninh
- Môi trường sống Dưới nước Rừng kín lá rộng thường xanh nhiệt đới Rừng thường xanh núi cao Rừng hỗn giao cây gỗ lớn và lồ ô, tre, nứa Lưỡng cư có đuôi sống hoàn toàn dưới nước Ao, hồ, đầm lầy, sông, suối, khu vực ngập nước nơi phân bố
- Tình trạng bảo tồn Nguy cấp EN: Endangered Sách đỏ Việt Nam năm 2023
- Giá trị sử dụng Có giá trị bảo tồn Nhân nuôi để nghiên cứu và làm cảnh Chuỗi mắt xích của đa dạng sinh học
- Sinh thái Loài đặc hữu Việt Nam Lưỡng cư (vòng đời trải qua 2 giai đoạn dưới nước và trên cạn) Ăn các loài ấu trùng, côn trùng sống trong khu vực sống
CÁ CÓC VIỆT NAM
Tylototriton vietnamensis Bohme et al., 2005
Echinotriton asperrimus (Unterstein,1930)
Họ: Cá cóc Salamandridae
Bộ: Có đuôi Caudata
Đặc điểm nhận dạng:
Có thân thuôn dài, có 4 chân, chân trước 4 ngón, chân sau 5 ngón, đuôi dẹt bên, dài thân trung bình 50mm. Đầu sa giông dẹt, mõm ngắn, tày gần như vuông, da sần sùi, gờ sống lưng nổi rõ. Mỗi bên sườn có một hàng củ lồi, mỗi củ tương ứng với đầu mỗi xương sườn. Toàn thân xám thẫm (nhiều cá thể gần như đen), bụng sáng hơn lưng, con non có mầu vàng giống mầu đất sét. Đầu các chi, mép dưới đuôi, viền lỗ hậu môn có mầu đỏ cam (các củ lồi bên sườn và mép trên đuôi ở nhiều cá thể cũng có mầu đỏ cam).
Sinh học, sinh thái:
Sống ở các vực nước (ao, vũng…) có nhiều bùn và lá mục, trong rừng kín tán trên núi ở độ cao 250 – 300m. Thức ăn gồm côn trùng và ấu trùng của chúng, giun đất, nhện, sên và những loài không xương sống nhỏ khác. Sinh sản vào đầu mùa xuân, nòng nọc gặp ở các vũng vào tháng 6 – 7, nhiều con đã hoàn thành giai đoạn biến thái vào tháng 9 – 10. Nòng nọc của sa giông ở giai đoạn đầu có mầu nâu sáng, nhiều con trong suốt với nhiều đốm sẫm ở phần đuôi. Mang ngoài của nòng nọc mầu da cam có 3 thuỳ ở mỗi bên. Khi mầu sắc mang nhạt dần, ngắn lại chuyển sang giai đoạn tiêu biến mang thì nòng nọc có mầu đen sẫm. Hết giai đoạn sinh sản, con trưởng thành chuyển lên sống trên cạn, dưới tán rừng.
Phân bố:
Trong nước: Bắc Giang (Tây Yên Tử), Lạng Sơn (Mẫu Sơn) Quảng Ninh (Yên Tử, Đồng Sơn – Kỳ Thượng).
Nước ngoài: Loài đặc hữu chỉ có ở Việt Nam.
Giá trị:
Loài mới công bố năm 2005 sau một thời gian dài nhần lẫn với loài Cá cóc sần Echinotriton asperimus. Có giá trị lớn về mặt khoa học, thẩm mỹ và là nguồn gen quí hiếm để nghiên cứu tiến hóa của các loài Lưỡng cư có đuôi Caudata trong tự nhiên, dùng làm tiêu bản sống phục vụ học tập, nghiên cứu cho học sinh, sinh viên. Có thể nuôi làm cảnh ở các Trung tâm bảo tồn để phục vụ du lịch.
Tình trạng:
Doài này hiện chỉ ghi nhận ở các tỉnh Bắc Giang, Lạng Sơn và Quảng Ninh. Diện tích vùng phân bố (EOO) ước tính khoảng 1.500 km2; số địa điểm ghi nhận phân bố là 3; loài này là đối tượng bị săn bắt làm dược liệu và buôn bán làm sinh vật cảnh; sinh cảnh sống của loài đã và đang bị thu hẹp, suy thoái do tác động của các hoạt động khai thác than, khai thác lâm sản, xâm lấn đất rừng để canh tác nông nghiệp và phát triển du lịch.
Phân hạng: EN B1ab(iii).
Biện pháp bảo vệ:
Loài này có tên trong Nghị định 84/2021/NĐ-CP của Chính phủ và Phụ lục II CITES. Một phần vùng phân bố của loài nằm trong Khu bảo tồn thiên nhiên Đồng Sơn – Kỳ Thượng (Quảng Ninh) và Khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử (Bắc Giang) nên được bảo vệ. Tuy nhiên vẫn cần thiết bBảo vệ sinh cảnh sống của loài trong tự nhiên. Tuyên truyền nhằm hạn chế tác động đến sinh cảnh sống của loài. Kiểm soát việc săn bắt và buôn bán loài này ở trong và ngoài nước. Nghiên cứu về phân bố, đặc điểm sinh học, sinh thái và đánh giá quần thể để đưa ra các khuyến nghị đối với công tác bảo tồn. Có thể tiến hành nhân nuôi bảo tồn.
Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam 2023 – phần động vật – trang 260.
- Documentation and reference sources:003
-
Vòng tròn khép kín đầy ma mị trong thế giới tự nhiên !19 Tháng 5, 2026 -
Bọ ngựa hoa lan, bậc thầy ngụy trang để sinh tồn !19 Tháng 5, 2026 -
Tại sao các loài thú ăn thực vật mà vẫn to lớn và cơ bắp ?7 Tháng 5, 2026 -
Bay trong đêm tối để kiếm ăn cùng với loài chồn bay13 Tháng 4, 2026 -
Sát thủ rừng xanh một thời, nay đã hoàn lương13 Tháng 4, 2026
Bài liên quan
Vạc hoa
Tên tiếng Anh:White-eared night-heron
Tên Latin:Gorsachius magnificus
Cám
Tên tiếng Anh:Annamese burada
Tên Latin:Parinari annamensis
Trai tai tượng lớn
Tên tiếng Anh:Large giant clam
Tên Latin:Tridacna maxima
Côn trùng Insecta
Thực vật Plantae
Nấm Fungi
Tô sơn Toricelliaceae