Cá cóc quảng tây
| Tên tiếng Anh: | Guangxi warty newt |
|---|---|
| Tên Latin: | Paramesotriton guangxiensis |
| Đồng danh: | Trituroides guanxiensis Huang et al., 1983 |
| Đồng danh: | Trituroides guanxiensis Huang et al., 1983 |
| Đồng danh: | Trituroides guanxiensis Huang et al., 1983 |
| Đồng danh: | Trituroides guanxiensis Huang et al., 1983 |
| Tên khác: | Cá cóc cao bằng |
- Độ cao so mặt nước biển 800 M //php } ?>
- Mã định danh002
- Xác định bởiPhùng Mỹ Trung
- Phân bố Trung Quốc Cao Bằng Quảng Ninh Vườn quốc gia Phia Oắc - Phia Đén, Việt Nam
- Môi trường sống Dưới nước Trên cạn Rừng kín lá rộng thường xanh nhiệt đới Rừng thường xanh núi cao Rừng hỗn giao cây gỗ lớn và lồ ô, tre, nứa Lưỡng cư có đuôi sống hoàn toàn dưới nước Ao, hồ, đầm lầy, sông, suối, khu vực ngập nước nơi phân bố
- Tình trạng bảo tồn Sắp nguy cấp VU: Vulnerable Sách đỏ Việt Nam năm 2023
- Giá trị sử dụng Có giá trị bảo tồn
- Sinh thái Lưỡng cư (vòng đời trải qua 2 giai đoạn dưới nước và trên cạn) Lưỡng cư kiếm ăn ban đêm
CÁ CÓC QUẢNG TÂY
Paramesotriton guangxiensis (Huang, Tang & Tang, 1983)
Trituroides guanxiensis Huang, Tang & Tang, 1983
Họ: Cá cóc Salamandridae
Bộ: Có đuôi Caudata
Đặc điểm nhận dạng:
Kích thước trung bình trong nhóm Cá cóc Paramesotriton sp. nhỏ hơn Cá cóc tam đảo Paramesotriton deloustali. Chiều dài toàn thân từ 12,5 – 14 cm ở cá thể đực và khoảng 13,4 cm ở cá thể cái. Thân mập mạp và khá phẳng. Mõm bằng. Nếp gấp ở môi khá phát triển. Đầu phẳng, hình tam giác, chiều dài lớn hơn chiều rộng. Khi gập chi trước và chi sau vào nhau, các ngón chân vừa chạm sát nhau. Da có các nếp nhăn nhỏ. Sống lưng nhô cao, kéo dài đến đuôi. Chiều dài đuôi ngắn hơn chiều dài thân, mút đuôi mỏng. Lỗ huyệt nổi rõ, đặc biệt dễ dàng quan sát ở các cá thể đực trong mùa sinh. Mặt trên màu nâu sẫm, mặt dưới có màu đen với các đốm màu vàng hoặc cam không đều khác với Cá cóc tam đảo Paramesotriton deloustali. Đường vây dưới đuôi màu vàng và nhạt dần về phía mút đuôi. Cá thể cái có màu nhạt hơn.
Sinh học, sinh thái:
Cá cóc quảng tây là loài chủ yếu hoạt động, kiếm ăn về đêm. Săn mồi, con mồi chủ yếu là các loài côn trùng nhỏ và giun đất. Trong điều kiện nuôi nhốt, loài này hoạt động mạnh từ tháng 2 đến tháng 9, ban ngày ít hoạt động, thường ẩn mình dưới khe đá trong nước. Chúng cũng ít hoạt động vào thời gian mùa đông. Đặc biệt, loài Cá cóc quảng tây còn được ghi nhận có tập tính tự vệ bằng cách cuộn tròn thân và đuôi, chân gập sát thân khi bị đe dọa. Trong điều kiện nuôi nhốt, mùa sinh sản của loài Cá cóc quảng tây vào từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau. Trứng đẻ trên cạn, trong các hốc đá ven mặt nước. Nòng nọc màu đen với mang màu vàng. Vây dưới đuôi màu trắng. Mút mõm và mống mắt có màu trắng vàng. Mặt dưới cơ thể nòng nọc có màu đen với các mảng trắng không đều. Loài Cá cóc quảng tây thường sinh sống ở các suối có độ dốc thấp dưới các tán rừng rậm hoặc cây bụi. Chúng ẩn mình dưới các tảng đá dưới lòng suối hoặc trong những bụi cỏ ven suối. Sau các cơn mưa lớn, có thể phát hiện chúng ở trên cạn cách suối từ 0.5 – 1m.
Phân bố:
Trong nước: Ở Việt Nam, loài này được ghi nhận tại huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng (Vườn quốc gia Phia Oắc – Phia Đén), Quảng Ninh (Ba Chẽ).
Nước ngoài: Cá cóc quảng tây được ghi nhận đầu tiên ở tỉnh Quảng Tây – Trung Quốc ở độ cao khoảng 470m so với mặt nước biển.
Phân hạng: VU B1ab(iii).
Giá trị:
Có giá trị lớn về mặt khoa học, thẩm mỹ và là nguồn gen quí hiếm để nghiên cứu tiến hóa của các loài Lưỡng cư có đuôi Caudata trong tự nhiên, dùng làm tiêu bản sống phục vụ học tập, nghiên cứu cho học sinh, sinh viên. Có thể nuôi làm cảnh ở các Trung tâm bảo tồn để phục vụ du lịch.
Tình trạng:
Loài này hiện được ghi nhận ở các tỉnh Cao Bằng và Quảng Ninh. Diện tích vùng phân bố (EOO) ước tính khoảng 3.500 km2; số điểm ghi nhận phân bố là 2; loài này là đối tượng bị săn bắt của người dân địa phương để làm dược liệu; sinh cảnh sống của loài đã và đang bị thu hẹp, suy thoái do tác động của các hoạt động khai thác than, khai thác lâm sản, xâm lấn đất rừng làm đất canh tác nông nghiệp.
Biện pháp bảo vệ:
Loài này có tên trong Nghị định 84/2021/NĐ-CP của Chính phủ và Phụ lục II CITES. Một phần vùng phân bố của loài nằm trong VQG Phia Oắc – Phia Đén nên được bảo vệ.. Nhưng vẫn cần thiết bảo vệ sinh cảnh sống của loài trong tự nhiên, đặc biệt là các suối trong rừng thường xanh. Tuyên truyền nhằm giảm thiểu tác động đến sinh cảnh sống của loài, kiểm soát và hạn chế săn bắt làm thuốc.
Mô tả loài: Phùng Mỹ Trung, Nguyễn Quảng Trường, Phạm Thế Cường – WebAdmin.
- Documentation and reference sources:002
-
Vòng tròn khép kín đầy ma mị trong thế giới tự nhiên !19 Tháng 5, 2026 -
Bọ ngựa hoa lan, bậc thầy ngụy trang để sinh tồn !19 Tháng 5, 2026 -
Tại sao các loài thú ăn thực vật mà vẫn to lớn và cơ bắp ?7 Tháng 5, 2026 -
Bay trong đêm tối để kiếm ăn cùng với loài chồn bay13 Tháng 4, 2026 -
Sát thủ rừng xanh một thời, nay đã hoàn lương13 Tháng 4, 2026
Bài liên quan
Chuột nhím đuôi ngắn
Tên tiếng Anh:Short-tailed gymnure
Tên Latin:Hylomys suillus
Thằn lằn bóng chân ngắn
Tên tiếng Anh:Siamese supple skink
Tên Latin:Lygosoma siamensis
Chuột chù bailey
Tên tiếng Anh:Bailey’s brown-toothed shrew
Tên Latin:Episoriculus baileyi
Côn trùng Insecta
Thực vật Plantae
Nấm Fungi
Tô sơn Toricelliaceae