Cá cóc ngọc linh
| Tên tiếng Anh: | Ngoc Linh Crocodile Newt |
|---|---|
| Tên Latin: | Tylototriton ngoclinhensis |
| Đồng danh: | Tylototriton ngoclinhensis Phung et al., 2023 |
| Đồng danh: | Tylototriton ngoclinhensis Phung et al., 2023 |
| Đồng danh: | Tylototriton ngoclinhensis Phung et al., 2023 |
| Đồng danh: | Tylototriton ngoclinhensis Phung et al., 2023 |
| Tên khác: | Cá cóc núi ngọc linh |
- Độ cao so mặt nước biển 1800 M //php } ?>
- Mã định danh002
- Xác định bởiPhùng Mỹ Trung
- Phân bố Việt Nam Kontum Khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Linh, Kontum Gia Lai Vườn quốc gia Chư Mom Ray, Việt Nam
- Môi trường sống Dưới nước Trên cạn Rừng kín lá rộng thường xanh nhiệt đới Rừng lá kim Rừng thường xanh núi cao Ao, hồ, đầm lầy, sông, suối, khu vực ngập nước nơi phân bố Sống chui rúc dưới các lớp thảm mục thực vật, hang hốc
- Tình trạng bảo tồn Chưa được đánh giá NE: Not evaluated
- Giá trị sử dụng Nhân nuôi để nghiên cứu và làm cảnh Loài cần được nghiên cứu, bảo tồn Cân bằng sinh thái trong chuỗi thức ăn tự nhiên
- Sinh thái Loài đặc hữu Đông dương Lưỡng cư (vòng đời trải qua 2 giai đoạn dưới nước và trên cạn) Lưỡng cư kiếm ăn ban đêm
CÁ CÓC NGỌC LINH
Tylototriton ngoclinhensis Phung et al., 2023
Họ: Cá cóc Salamandridae
Bộ: Có đuôi Caudata
Đặc điểm nhận dạng:
Loài lưỡng cư có đuôi có kích thước trung bình. Lưng có nốt sần dạng cục, xuất hiện dãy xương lưng trên đầu. Nốt gần dạng cục. Xương vuông tiêu biến. Chiều dài cơ thể (SVL- từ mút mõm hậu môn) là 66.5 – 65.7 mm ở con đực và 72.5 – 75.6 mm ở con cái. Chiều dài đuôi là 50.3 – 51 mm ở con đực và 59.6 – 60.1 mm ở con cái. Đầu dài hơn rộng. Mang tai phình lớn, hướng ra sau. Dãy xương sống tuyến rộng, cao, phân đốt. Dãy nốt sần ở sườn rộng, hình thành những cục u hình núm, tách biệt từng nốt. Xuất hiện nếp họng. Đầu chóp chân trước và chân sâu gối lên nhau khi bó sát thành một cơ thể dài. Đầu ngón chân trước chạm vào giữa mắt và mũi khi chân trước duỗi ra trước. Mặt lưng và mặt bên của đầu, môi dưới, nốt sần ở sườn, dãy xương sườn, vùng quanh lỗ huyệt và mép bụng của đuôi có màu da cam.
Đầu hơi lõm ở đỉnh. Mõm ngắn, cụt ở góc nhìn từ lưng, thoáng hình tam giác ở góc nhìn nghiêng và nhô ra quá hàm dưới. Mũi gần đỉnh mõm hơn gần mắt. Môi trên dày, mập thịt và gối lên môi dưới ở ngay dưới vùng mắt. Dãy xương lưng bên ở đầu hơi lồi lên, từ mắt trên đến cuối phần trước trên của mang tai, phần cuối sau gần như dày và cuộn vào trong. Dãy chính giữa lưng ở đầu rõ và mỏng. Mang tai phình rộng, nhô ra sau. Lưỡi hình bầu dục, dính với ngạc dưới trước miệng, tự do cử động sang hai bên và ra sau. Dãy xương lá mía có hình chữ V ngược, tụ về phía trước và chạm vùng mũi hầu. Dãy xương tuyến rộng, cao, nổi từng ụ cao riêng, toả từ đỉnh đầu đến đáy đuôi. Nốt sườn lớn, hình núm, tách biệt nhau, 14 nốt ở mỗi bên thân từ nách đến đáy đuôi. Cá cóc ngọc linh Tylototriton ngoclinhensis có hình thái tương đối giống các loài cá cóc trong khu vực như Cá cóc gờ sọ mảnh Tylototriton anguliceps, Cá cóc yang Tylototriton yangi, Tylototriton pulchernnima, Tylototriton verucosus, Tylototriton uyenoi và Tylototriton shanjing nhưng khoảng cách địa lý phân bố cách loài gần nhất 350 km đường chim bay.
Khi còn sống, màu nền của mặt lưng và bụng là đen sẫm. Mặt lưng và mặt bên của đầu và môi dưới đến góc hàm, nốt sườn, dãy sống lưng, vùng xung quanh của lỗ huyệt và mép bụng của đuôi có màu da cam. Đầu ngón tay và ngói cái có màu nâu cam. Ở dạng tiêu bản, mẫu có màu nâu đen. Màu da cam chuyển sang màu vàng sáng.
Sinh học, sinh thái:
Cá thể trưởng thành, sống trên cạn, ven suối và chui rúc trong các lớp thảm mục thực vật ở các khu rừng thường xanh núi cao quanh năm sương mù bao phủ. Thức ăn là các loài côn trùng đất sống trong khu vực phân bố và giun. Chúng chỉ xuất hiện vào đầu mùa mưa để ghép đôi, giao phối và đẻ trứng. Trứng, nòng nọc sống dưới các vũng nước trong khu vực phân bố, và ở cả trong các hốc cây sát đất có nước. Sau khi hoàn thành vòng đời, con trưởng thành lên bờ để sống.
Phân bố:
Trong nước: Loài mới được phát hiện vùng phân bố ở Khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Linh năm 2023. Loài đặc hữu hẹp ở Việt Nam và tên loài được đặt theo vùng phân bố.
Nước ngoài: Lào (Phạm Thế Cường).
Giá trị:
Có giá trị lớn về mặt khoa học, thẩm mỹ và là nguồn gen quí hiếm để nghiên cứu tiến hóa của các loài Lưỡng cư có đuôi Caudata trong tự nhiên, dùng làm tiêu bản sống phục vụ học tập, nghiên cứu cho học sinh, sinh viên. Có thể nuôi làm cảnh ở các Trung tâm bảo tồn để phục vụ du lịch.
Tình trạng:
Loài này hiện chỉ ghi nhận ở các tỉnh Kontum, diện tích vùng phân bố (EOO) ước tính khoảng 2.500 km2; số điểm ghi nhận phân bố là 2; sinh cảnh sống của loài đã và đang bị thu hẹp, suy thoái do tác động của các hoạt động làm đường, khai thác lâm sản, xâm lấn đất rừng làm đất canh tác nông nghiệp.
Biện pháp bảo vệ:
Loài này sẽ được đưa vào Nghị định 84/2021/NĐ-CP của Chính phủ và Phụ lục II CITES. Một phần vùng phân bố của loài nằm trong Khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Linh nên được bảo vệ. Tuy nhiên, rất cần thiết bảo vệ sinh cảnh sống của loài trong tự nhiên và tuyên truyền nhằm hạn chế tác động đến sinh cảnh sống của loài..
Mô tả loài: Phùng Mỹ Trung, Phạm Thế Cường, Nguyễn Quảng Trường – WebAdmin.
- Documentation and reference sources:002
-
Vòng tròn khép kín đầy ma mị trong thế giới tự nhiên !19 Tháng 5, 2026 -
Bọ ngựa hoa lan, bậc thầy ngụy trang để sinh tồn !19 Tháng 5, 2026 -
Tại sao các loài thú ăn thực vật mà vẫn to lớn và cơ bắp ?7 Tháng 5, 2026 -
Bay trong đêm tối để kiếm ăn cùng với loài chồn bay13 Tháng 4, 2026 -
Sát thủ rừng xanh một thời, nay đã hoàn lương13 Tháng 4, 2026
Bài liên quan
Bồng bồng
Tên tiếng Anh:Crown flower
Tên Latin:Calotropis gigantea
Xén tóc lớn đông dương
Tên tiếng Anh:Round-necked longhorn beetle
Tên Latin:Neocerambyx vitalisi
Mèo cá
Tên tiếng Anh:Fishing cat
Tên Latin:Prionailurus viverrinus
Côn trùng Insecta
Thực vật Plantae
Nấm Fungi
Tô sơn Toricelliaceae