Bướm trúc
| Tên tiếng Anh: | Common duffer |
|---|---|
| Tên Latin: | Discophora sondaica |
| Đồng danh: | Papilio tullia Cramer, 1775 |
| Đồng danh: | Discophora sondaica tulliana Stichel, 1905 |
| Đồng danh: | Papilio tullia Cramer, 1775 |
| Đồng danh: | Discophora sondaica tulliana Stichel, 1905 |
| Tên khác: | Bướm chúa sâu ăn trúc |
- Độ cao so mặt nước biển 200 M //php } ?>
- Mã định danh003
- Xác định bởiPhùng Mỹ Trung
- Tình trạng bảo tồn Loài phổ biến FS: Formal species
- Giá trị sử dụng Có giá trị bảo tồn Loài cần được nghiên cứu, bảo tồn
- Sinh thái Bướm ngày Butterflies Ấu trùng ăn lá cây, trưởng thành hút nhụy hoa
BƯỚM TRÚC
Discophora sondaica Boisduval, 1836
Papilio tullia Cramer, 1775
Discophora sondaica tulliana Stichel, 1905
Họ: Bướm giáp Nymphalidae
Bộ: Cánh vẩy Lepidoptera
Đặc điểm nhận dạng:
Đặc điểm giống: có cánh trước hình tam giác rộng với đỉnh nhọn và hơi dài. Gân 11 của cánh trước nối với gân 12 và gân 10. Vùng trung tâm cánh sau mở rộng và viền của nó hơi dài ở gân 4. Ở con đực, ở phần chính của gân 3,4 của mặt trên cánh sau những vẩy đặc biệt tạo thành một mảng tròn lồi lên. Con cái lớn hơn với trang trí sáng hơn ở con đực. Loài D.sondaica có mặt trên con đực màu nâu tối, cánh trước có 3 hàng đốm không đầy đủ nằm ngang màu vàng xếp từ giữa cánh ra ngoài mép cánh, cánh sau không có các dãy đốm nhưng vùng giữa là màu tối; con cái màu nâu nhạt hơn, hàng đốm mờ nhạt tìm thấy ở cả hai cánh, có vệt vàng ở gần mép trên và mép dưới khoảng giữa mép trên cánh sau, mép cánh sau gấp góc ở gân 4. Mặt dưới: màu nâu nhạt hơn, với vùng gốc và vùng giữa tối; ở cánh sau có mắt ở khoảng 2 và khoảng 6. Sải cánh: 80 – 90 mm.
Sinh học, sinh thái:
Loài này sống ở trong rừng nơi có tán che ở độ cao thấp, gần rừng tre nứa. Trong ngày, khi bị động, bướm có kiểu bay nhanh theo quãng ngắn và dừng lại nhanh với đôi cánh xếp vào sát với các lá cây gần đấy. Bướm hoạt động tích cực vào lúc nhá nhem tối, thường vào ánh sáng đèn trong nhà, chích hút quả và nhựa cây. Sâu non ăn lá cây Sặt, Hóp cần câu, Trúc và Nứa (tất cả thuộc họ Cỏ Poaceae).
Phân bố:
Trong nước: Hầu khắp Việt Nam. Tên loài được đặt do chúng phổ biến trong rừng tre trúc.
Nước ngoài: Phân bố từ Ấn Độ sang Nam Trung Quốc, Thái Lan, Lào, Philippin, Malaysia, Indonesia.
Giá trị, tình trạng và biện pháp bảo vệ:
Là loài phân bố không rộng ở thế giới, nhưng khá rộng ở và Việt Nam. Tuy ăn lá các loài cây kể trên nhưng loài này chưa bao giờ tạo thành dịch hại.
Mô tả loài: Vũ Văn Liên – Bảo tàng thiên nhiên Việt Nam, Phùng Mỹ Trung – WebAdmin.
- Documentation and reference sources:003
-
Vòng tròn khép kín đầy ma mị trong thế giới tự nhiên !19 Tháng 5, 2026 -
Bọ ngựa hoa lan, bậc thầy ngụy trang để sinh tồn !19 Tháng 5, 2026 -
Tại sao các loài thú ăn thực vật mà vẫn to lớn và cơ bắp ?7 Tháng 5, 2026 -
Bay trong đêm tối để kiếm ăn cùng với loài chồn bay13 Tháng 4, 2026 -
Sát thủ rừng xanh một thời, nay đã hoàn lương13 Tháng 4, 2026
Bài liên quan
Ếch bám đá compotrix
Tên tiếng Anh:Compotrix torrent frog
Tên Latin:Amolops compotrix
Cánh kiến đỏ
Tên tiếng Anh:Lac Scale
Tên Latin:Kerria lacca
Diều cá lớn
Tên tiếng Anh:Grey-headed fish eagle
Tên Latin:Icthyophaga ichthyaetus
Côn trùng Insecta
Thực vật Plantae
Nấm Fungi
Tô sơn Toricelliaceae