TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Bướm phượng đuôi kiếm

Tên tiếng Anh: Five bar sword tail
Tên Latin: Graphium antiphates
Đồng danh: Graphium antiphates (Cramer, 1775)
Đồng danh: Papilio antiphates Cramer, 1775
Đồng danh: Papilio pompilius Fabricius, 1787
Đồng danh: Pathysa albescens Chou, Yuan & Wang, 2000
Tên khác: Bướm phượng cánh kiếm
  • Độ cao so mặt nước biển 400 M
  • Mã định danh001
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

BƯỚM CÁNH PHƯỢNG KIẾM

Graphium antiphates (Cramer, 1775)
Papilio antiphates Cramer, 1775
Papilio pompilius Fabricius, 1787
Pathysa albescens Chou, Yuan & Wang, 2000
Họ: Bướm phượng Papilionidae
Bộ: Cánh vẩy Lepidoptera

Đặc điểm nhận dạng:
Bướm có kích thước trung bình, sải cánh dài 85 – 90 mm. Cánh con đực và con cái có kích thước giống nhau, màu trắng vàng có nhiều vạch đen, mặt trên của cánh trước có 7 vạch đen, vạch thứ hai kéo dài tới giữa cánh còn lại kéo dài khoảng 1/5 cánh. Cánh sau có đuôi dài dạng kiếm. Mép cánh và kiếm có màu đen. Mặt trên của cánh sau màu trắng vàng với nhiều vệt và chấm đen.
Sinh học, sinh thái:
Thường gặp ở vùng rừng núi nước ta. Thường thấy ở bìa rừng, ven suối và nơi ẩm ướt, khi trời nắng đẹp bướm thường bay rập rờn trên các đỉnh cây bụi có hoa. Vào buổi trưa bướm thường tìm nơi đất ẩm ướt ven suối, vũng nước để đậu, lúc này dễ dàng bắt được chúng. Sâu non ký chủ trên cây Desmos cochinchinensis, Uvaria grandiflora, Goniothalamus sp., Michelia sp.
Phân bố:
Trong nước: Loài này sống ở hầu khắp các tỉnh có núi rừng từ Bắc đến Nam. Gặp nhiều ở các tỉnh Nam bộ như Đồng Nai, Bình Phước, Lâm Đồng, Bình Thuận và Bà Rịa – Vũng Tàu.
Nước ngoài: Ấn Độ, Nam Trung Quốc, Lào, Cambodia và Thái Lan.
Giá trị sử dụng:
Bướm đẹp, làm cảnh, được nhiều nhà sưu tầm bướm ưa thích, Đời sống gắn với rừng ẩm nên chúng còn là chỉ thị của môi trường. Một khi bướm không xuất hiện, nghĩa là rừng nơi đó bị phát quang.
Tình trạng:
Trước đây là loài bướm này rất hiếm gặp do diện tích rừng bị phá hủy. Nhưng hiện nay ở Việt Nam, một số Vườn quốc gia và khu vực rừng phục hồi gặp loài này khá phổ biến và gặp ở rất nhiều sinh cảnh khác nhau. Mức đe dọa: Bậc E theo sách đỏ cũ và đã không còn đưa vào sách đỏ mới.
Đề nghị biện pháp bảo vệ:
Cần bảo vệ và khôi phục rừng, khoanh vùng nhân nuôi Insitu. Không bắt đề làm bộ sưu tập.

Tài liệu tham khảo: Sách đỏ Việt Nam 2000 – phần động vật – trang 395.

  • Documentation and reference sources:001

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae