TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Bướm nữ chúa rừng vàng

Tên tiếng Anh: Framed jungle queen
Tên Latin: Stichophthalma suffusa
Đồng danh: Stichophthalma suffusa tonkiniana Fruhstorfer, 1901
Đồng danh: Stichophthalma lowqua Vitalis,1919
Đồng danh: Stichophthalma tonkiniana Vitalis,1919
Đồng danh: Stichophthalma suffusa Vitalis,1919
Tên khác: Bướm măng vàng
  • Độ cao so mặt nước biển 1000 M
  • Mã định danh001
  • Xác định bởiTô Văn Quang

BƯỚM NỮ CHÚA RỪNG VÀNG

Stichophthalma suffusa Vitalis,1919
Stichophthalma suffusa tonkiniana Fruhstorfer, 1901
Stichophthalma lowqua Vitalis,1919
Stichophthalma tonkiniana Vitalis,1919
Họ: Bướm giáp Nymphalidae

Bộ: Cánh vẩy Lepidoptera

Đặc điểm nhận dạng:
Con trưởng thành có kích thước lớn. Sải cánh khoảng 80 – 110 mm. Con cái thường lớn hơn con đực. Cánh rộng, thuôn dài và mép cánh sau hơi lượn sóng. Mặt trên cánh có màu nâu sẫm đến nâu ôliu, phủ một lớp ánh vàng hoặc vàng nâu nhạt. Gần rìa cánh sau có một dãy đốm mắt (ocelli) màu đen, viền vàng hoặc cam, giúp đánh lạc hướng kẻ săn mồi. Mặt dưới cánh có màu nâu nhạt hơn, với nhiều vân ngang mảnh và các đốm mắt rõ hơn, giúp ngụy trang khi đậu trên thân cây hoặc lá khô. Đầu và thân đầu nhỏ với đôi mắt kép lớn. Râu đầu hình chùy, đặc trưng của bướm ngày. Thân chắc, phủ nhiều lông mịn màu nâu. Chân khỏe, thích hợp bám trên thân cây và lá.
Sinh học, sinh thái:
Rừng thường xanh nhiệt đới, rừng cận nhiệt đới ẩm, rừng trên núi thấp và núi trung bình, ven suối trong rừng. ở độ cao trung bình từ 800 đến 1.000 m. Xuất hiện theo mùa  từ tháng 3 đến tháng 8. Qua các năm, loài này được phát hiện khá phong phú tuy nhiên mật độ quần thể biến động. Cá thể trưởng thành bay chậm, ổn định và thường ở tầng dưới tán rừng. Hoạt động mạnh vào buổi sáng và đầu buổi chiều. Ít gặp ở nơi trống trải, ưa những khu vực râm mát. Con trưởng thành thường hút dịch quả chín rụng, nhựa cây chảy và đôi khi hút chất khoáng từ đất ẩm và phân động vật. Có thể là sâu non ăn lá cây Diệp vĩ – Spodiopogon cotulifer họ Cỏ Poaceae.
Phân bố:
Trong nước: Bướm này chỉ thấy xuất hiện ở miền Bắc Việt Nam, chúng xuất hiện theo mùa khá phổ biến (tháng 3 đến tháng 8) ở Vườn quốc gia Tam Đảo, Vườn quốc gia Du Già. Tên bướm  được đặt theo đặc điểm màu của cánh trên suffusa, nghĩa là “phủ màu” hoặc “nhuốm màu“.
Nước ngoài: Vân Nam, Trung Quốc.
Giá trị:
Bướm có màu sắc, hoa văn đẹp, có thể nuôi làm cảnh ở các công viên, vườn sưu tập bướm và làm tiêu bản sống để cho học sinh, sinh viên nghiên cứu, học tập về tính đa dạng loài trong tự nhiên.

Mô tả loài: Tô Văn Quang, Phùng Mỹ Trung – WebAdmin.

  • Documentation and reference sources:

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae