Bướm lông xanh
| Tên tiếng Anh: | Common ciliate blue |
|---|---|
| Tên Latin: | Anthene emolus |
| Đồng danh: | Lampides balliston Hübner, 1823 |
| Đồng danh: | Lycaenesthes bengalensis Moore, 1866 |
| Đồng danh: | Polyommatus emolus Godart, 1824 |
| Đồng danh: | Lycaenesthes emolus Druce, 1895 |
| Tên khác: | Bướm cỏ lông xanh |
- Độ cao so mặt nước biển 500 M //php } ?>
- Mã định danh001
- Xác định bởiPhùng Mỹ Trung
- Tình trạng bảo tồn Chưa được đánh giá NE: Not evaluated
- Giá trị sử dụng Có giá trị bảo tồn Chuỗi mắt xích của đa dạng sinh học
- Sinh thái Bướm ngày Butterflies Ấu trùng ăn lá cây, trưởng thành hút nhụy hoa
BƯỚM LÔNG XANH
Anthene emolus Godart, 1824
Lampides balliston Hübner, [1823]
Lycaenesthes bengalensis Moore, 1866
Polyommatus emolus Godart, 1824
Lycaenesthes emolus Druce, 1895
Họ: Bướm xanh Lycaenidae
Bộ: Cánh vẩy Lepidoptera
Đặc điểm nhận dạng:
Giống Anthene có vài đặc điểm giống với Nacaduba, tuy nhiên râu của chúng dài hơn và mập. Gân 11 và 12 tự do ( không nối với nhau). Lông rung ở cuối cánh sau dài và tạo thành 3 đuôi ngắn ở gân 1,2 và 3.Việt Nam có hai loài trong giống Anthene. Loài Anthene lycaenina có chót cánh trước và góc ngoài cánh sau nhọn hơn, mép ngoài cánh trước khá thẳng; ở mặt dưới cánh sau, sát bờ cánh, có một chấm đen rất rõ. Còn loài Anthene emolus có mặt trên Bướm đực xanh tím sậm với nền mép đen, Bướm cái màu nâu với phần gốc cánh màu tím – trên cánh sau Bướm cái có các đốm tối màu ở mép ngoài. Mặt dưới Bướm đực và cái giống nhau, cánh sau có một đốm mắt viền cam ở góc ngoài và một chấm đen ở đáy cánh, gần gốc cánh. Có ba đuôi rất ngắn ở cánh sau, tạo thành từ các lông nhỏ. Có kích thước gần bằng các loài thuộc giống Jamides và Nacadula. Sải cánh ≥ 30 mm. Loài Anthene emolus còn có một dạng khác nữa, về cơ bản rất giống dạng được giới thiệu trên đây, nhưng màu sắc ở mặt trên xanh đậm hơn và các hoa văn ở mặt dưới rõ rệt hơn.
Sinh học, sinh thái:
Thường gặp ở các vũng nước trong rừng. Hay đậu lên quần áo hoặc da người để hút các chất khoáng trong mồ hôi. Bay rất nhanh nhưng chỉ từng chặng ngắn. Bướm đực có thể thường gặp ở những chỗ đất trũng trên những lối mòn nhỏ trong rừng, ở bờ sông và suối gần rừng phục hồi thứ sinh. Loài này thích vùng đất thấp. Trên bán đảo Malaysia bướm cái đẻ trứng trên cây Vàng anh Saraca dives họ Đậu Fabaceae, định cư do những loài kiến đặc biệt. Sâu non tuổi nhỏ được kiến tha đến tổ của chúng, ở đó chúng lớn lên, trong khi những sâu non không được kiến tha về tổ sẽ bị chết.
Phân bố:
Trong nước: Loài này xuất hiện khắp nơi ở Việt Nam.
Nước ngoài: Phân bố từ Ấn Độ qua bán đảo Đông Dương – Thái Lan, Lào và quần đảo Sanda đến New Guinea và Australlia.
Giá trị, tình trạng và biện pháp bảo vệ:
Là loài phân bố rộng và thường gặp.
Mô tả loài: Vũ Văn Liên – Bảo tàng thiên nhiên Việt Nam, Phùng Mỹ Trung – WebAdmin.
- Documentation and reference sources:
-
Vòng tròn khép kín đầy ma mị trong thế giới tự nhiên !19 Tháng 5, 2026 -
Bọ ngựa hoa lan, bậc thầy ngụy trang để sinh tồn !19 Tháng 5, 2026 -
Tại sao các loài thú ăn thực vật mà vẫn to lớn và cơ bắp ?7 Tháng 5, 2026 -
Bay trong đêm tối để kiếm ăn cùng với loài chồn bay13 Tháng 4, 2026 -
Sát thủ rừng xanh một thời, nay đã hoàn lương13 Tháng 4, 2026
Bài liên quan
Nhái cây sừng
Tên tiếng Anh:Horned bushfrog
Tên Latin:Gracixalus supercornutus
Gấu ngựa
Tên tiếng Anh:Moon bear
Tên Latin:Ursus thibetanus
Xén tóc lớn đông dương
Tên tiếng Anh:Round-necked longhorn beetle
Tên Latin:Neocerambyx vitalisi
Côn trùng Insecta
Thực vật Plantae
Nấm Fungi
Tô sơn Toricelliaceae