Bướm lá khô
| Tên tiếng Anh: | Orange oakleaf |
|---|---|
| Tên Latin: | Kallima inachus |
| Đồng danh: | Kallima alicia Chun, 1929 |
| Đồng danh: | Callima boisduvali Moore, 1879 |
| Đồng danh: | Kallima inachus siamensis Fruhstorfer, 1912 |
| Đồng danh: | Kallima acerifolia Fruhstorfer, 1913 |
| Tên khác: | Bướm lá sồi vàng |
- Độ cao so mặt nước biển 800 M //php } ?>
- Mã định danh001
- Xác định bởiPhùng Mỹ Trung
- Tình trạng bảo tồn Chưa được đánh giá NE: Not evaluated
- Giá trị sử dụng Có giá trị bảo tồn Nhân nuôi để nghiên cứu và làm cảnh
- Sinh thái Bướm ngày Butterflies Ấu trùng ăn lá cây, trưởng thành hút nhụy hoa
BƯỚM LÁ KHÔ
Kallima inachus Boisduval, 1846
Kallima alicia Chun, 1929
Callima boisduvali Moore, 1879
Kallima inachus siamensis Fruhstorfer, 1912
Kallima acerifolia Fruhstorfer, 1913
Họ: Bướm giáp Nymphalidae
Bộ: Cánh vẩy Lepidoptera
Đặc điểm nhận dạng:
Loài bướm rất đặc trưng cho việc bắt trước để ngụy trang lẩn tránh kẻ thù, khi chúng đậu khép cánh lại, mặt dưới cánh giống hệt như một chiếc lá khô. Với phần đuôi cánh sau kéo dài như một chiếc cuống lá và một đường màu nâu kéo dài đến chóp cánh trước tạo thành như gân chính của chiếc lá. Mặt trên cánh trước có một mảng màu cam ở giữa cánh, chóp cánh có màu đen với một chấm trắng nhỏ, phần còn lại cuả cánh trước và cánh sau có màu xanh lam rất rõ. Tuy nhiên ở sát mép và mép trên cánh sau có nền nâu vàng với những vẩy xanh lam li ti rải rác. Ở mặt trên cánh trước có một chấm trắng nhỏ nữa nằm ở vùng xanh lam, giữa cánh gần rơi mép mảnh màu cam. Ở sau phần giữa cánh về phía mép ngoài của cả cánh trước và cánh sau có một đường mảnh màu đen, lượn sóng. Bướm cái: phía trên đỉnh của cánh trước kéo dài và nhô ra. Mặt trên: Bướm đực: màu xanh tím hoặc màu xanh nhạt phụ thuộc vào từng mùa. Sải cánh: 85 – 110 mm.
Sinh học, sinh thái:
Loài này chỉ sống trong các khu rừng thường xanh có nhiều cây to và thường gặp những cá thể đơn lẻ trong các bụi cây Calamus rậm rạp thuộc họ Cau Arecaceae, đôi khi thấy chúng hấp dẫn bởi một số loài quả thối thuộc giống Ficus sp. Khi bị động chúng bay lên rất cao và sâu vào các bụi rậm, do cánh của chúng rất giống với một chiếc lá khô nên rất khó quan sát. Thức ăn của sâu non được ghi nhận là trên một số cây Song, Mây Calamus sp. thuộc họ Cau Arecaceae và cây Strobilanthes sp. Gặp nhiều vào tháng 6,7 ở rừng nguyên sinh và thứ sinh liền kề với rừng nguyên sinh ở những khu rừng đất thấp, Độ cao 800 m trở lên.
Phân bố:
Trong nước: Ở Vườn quốc gia Cúc Phương, Tam Đảo, Ba Vì gặp rất nhiều loài này vào dịp cuối tháng 6 đầu tháng 7 (dương lịch) Vườn quốc gia Bidoup Núi Bà, Chưyangsin ….
Nước ngoài: Ấn Độ, Myanmar, Nam Trung Quốc, Các nước Đông dương Thái Lan, Lào, Cambodia, Indonesia, Malaysia.
Giá trị, tình trạng và biện pháp bảo vệ:
Là một trong những loài bướm đặc biệt nổi tiếng Nước ngoài về đặc tính ngụy trang trốn kẻ thù của chúng. Do đó, nó là một ví dụ rất tốt cho cho học sinh, sinh viên khi học về tính chất này trong bộ môn sinh vật. Chúng có giá trị cao trong phân loại học và đa dạng sinh học. Cần có biện pháp tốt để bảo vệ nơi cư trú của chúng, giúp chúng có điều kiện sinh tồn và phát triển.
Mô tả loài: Vũ Văn Liên – Bảo tàng thiên nhiên Việt Nam, Phùng Mỹ Trung – WebAdmin.
- Documentation and reference sources:
-
Vòng tròn khép kín đầy ma mị trong thế giới tự nhiên !19 Tháng 5, 2026 -
Bọ ngựa hoa lan, bậc thầy ngụy trang để sinh tồn !19 Tháng 5, 2026 -
Tại sao các loài thú ăn thực vật mà vẫn to lớn và cơ bắp ?7 Tháng 5, 2026 -
Bay trong đêm tối để kiếm ăn cùng với loài chồn bay13 Tháng 4, 2026 -
Sát thủ rừng xanh một thời, nay đã hoàn lương13 Tháng 4, 2026
Bài liên quan
Thằn lằn ngón sang
Tên tiếng Anh:Sang’s bent-toed gecko
Tên Latin:Cyrtodactylus sangi
Lan hài cảnh
Tên tiếng Anh:Canh's slipper orchid
Tên Latin:Paphiopedilum canhii
Bướm hổ đuôi nhỏ
Tên tiếng Anh:Common jester
Tên Latin:
Côn trùng Insecta
Thực vật Plantae
Nấm Fungi
Tô sơn Toricelliaceae