Bướm hổ gốc cánh vàng
| Tên tiếng Anh: | Yellow glassy tiger |
|---|---|
| Tên Latin: | Parantica aspasia |
| Đồng danh: | Papilio aspasia Fabricius, 1787 |
| Đồng danh: | Parantica aspasia annetta (Swinhoe, 1915) |
| Đồng danh: | Parantica aspasia caulonia Fruhstorfer, 1911 |
| Đồng danh: | Parantica aspasia cerilla (Fruhstorfer, 1911) |
| Tên khác: | Bướm hổ apsara |
- Độ cao so mặt nước biển M //php } ?>
- Mã định danh001
- Xác định bởiTô Văn Quang
- Tình trạng bảo tồn Chưa được đánh giá NE: Not evaluated
- Giá trị sử dụng Có giá trị bảo tồn Nhân nuôi để nghiên cứu và làm cảnh
- Sinh thái Bướm ngày Butterflies Ấu trùng ăn lá cây, trưởng thành hút nhụy hoa
BƯỚM HỔ GỐC CÁNH VÀNG
Parantica aspasia (Fabricius, 1787)
Papilio aspasia Fabricius, 1787
Parantica aspasia annetta (Swinhoe, 1915)
Parantica aspasia caulonia Fruhstorfer, 1911
Parantica aspasia cerilla (Fruhstorfer, 1911)
Họ: Bướm đốm Danaidae
Bộ: Cánh vẩy Lepidoptera
Đặc điểm nhận dạng:
Bướm có kích thước nhỏ và có đặc trưng không thể nhầm lẫn với loài nào trong khác nhóm bướm này bởi các đặc điểm khác biệt gồm cánh màu xám xanh, với mảng màu vàng tươi và khá lớn cùng các đốm đen ở gốc cánh cả ở hai cánh. Sải cánh khoảng 60 – 75 mm. Cánh trước chỉ giống với loài Parantica swinhoei, Parantica aglea ở phần chót cánh có mau đen và màu xanh nhạt, nhưng những mảng màu vàng ở gốc cánh rất khác biệt. Kích thước nhỏ nhất trong các loài thuộc giống Parantica.
Sinh học, sinh thái:
Bướm thường ưa chỗ trống và sáng. Có thể tìm thấy bướm trưởng thành quanh năm, nhiều nhất vào tháng 9 tháng 10 và tháng 12. Bướm cái đẻ trứng đơn lẻ, hình thoi màu trắng. Sâu bướm nở sau khoảng bốn ngày. Thức ăn chủ yếu của sâu non là Dây thìa canh Gymnema sylvestre, Trâm hùng Raphistemma hooperianum và Oa nhi đằng ấn độ Tylophora indica thuộc họ Thiên lý Asclepiadaceae. Sau khoảng 14 ngày và năm giai đoạn ấu trùng, sâu bướm hóa nhộng, bám chặt vào thân hoặc lá cây chủ. Nhộng có màu xanh lục nhạt với các chấm đen. Bướm trưởng thành sẽ xuất hiện sau 8 ngày.
Phân bố:
Trong nước: Loài này xuất hiện vào đầu và cuối mùa mưa ở phía Nam Việt Nam, Nhưng ít gặp và chỉ gặp Lâm Đồng, Bình Thuận, Đồng Nai, Bình Phước và Tây Ninh.
Nước ngoài: Vùng phân bố của loài này theo hướng Đông từ Myanmar, Thailand, Cambodia, Langkawi, Tây Malaysia, Singapore, Borneo và Đông Dương.
Mô tả loài: Phùng Mỹ Trung, Tô Văn Quang – WebAdmin.
- Documentation and reference sources:001
-
Vòng tròn khép kín đầy ma mị trong thế giới tự nhiên !19 Tháng 5, 2026 -
Bọ ngựa hoa lan, bậc thầy ngụy trang để sinh tồn !19 Tháng 5, 2026 -
Tại sao các loài thú ăn thực vật mà vẫn to lớn và cơ bắp ?7 Tháng 5, 2026 -
Bay trong đêm tối để kiếm ăn cùng với loài chồn bay13 Tháng 4, 2026 -
Sát thủ rừng xanh một thời, nay đã hoàn lương13 Tháng 4, 2026
Bài liên quan
Rắn lục núi quan âm
Tên tiếng Anh:Guanyinshan mountain pitviper
Tên Latin:Ovophis zhaoermii
Rắn xe điếu xám
Tên tiếng Anh:Peters' odd-scaled snake
Tên Latin:Achalinus spinalis
Rùa núi viền
Tên tiếng Anh:Impressed tortoise
Tên Latin:Manouria impressa
Côn trùng Insecta
Thực vật Plantae
Nấm Fungi
Tô sơn Toricelliaceae