Bướm giáp lớn
| Tên tiếng Anh: | Common cruiser |
|---|---|
| Tên Latin: | Vindula erota |
| Đồng danh: | Papilio erota Fabricius, 1793 |
| Đồng danh: | Cynthia erota Fabricius, 1793 |
| Đồng danh: | Cynthia gedeana Fruhstorfer, 1906 |
| Đồng danh: | Vindula erota subsp. albotaeniata (Fruhstorfer, 1912) |
| Tên khác: | Bướm giáp thông thường |
- Độ cao so mặt nước biển 1200 M //php } ?>
- Mã định danh001
- Xác định bởiTô Văn Quang
- Tình trạng bảo tồn Loài phổ biến FS: Formal species
- Giá trị sử dụng Nhân nuôi để nghiên cứu và làm cảnh Chuỗi mắt xích của đa dạng sinh học
- Sinh thái Bướm ngày Butterflies Ấu trùng ăn lá cây, trưởng thành hút nhụy hoa
BƯỚM GIÁP LỚN
Vindula erota (Fabricius, 1793)
Papilio erota Fabricius, 1793
Cynthia erota Fabricius, 1793
Cynthia gedeana Fruhstorfer, 1906
Vindula erota subsp. albotaeniata (Fruhstorfer, 1912)
Họ: Bướm giáp Nymphalidae
Bộ: Cánh vẩy Lepidoptera
Đặc điểm nhận dạng:
Giống Vindula có kích thước lớn. Sải cánh : 90 – 110 mm. Mặt trên cánh con đực có màu vàng cam với hai đường đen lượn sóng ở gần mép ngoài cánh. Trên cánh cũng có các đốm, vệt màu đen ở vùng giữa. Cánh sau có hai đốm mắt và một đuôi ngắn. Mặt dưới nhạt màu hơn. Việt Nam có hai loài thuộc giống này, nhận diện rất dễ, nhưng khó phân biệt đến cấp loài bằng cách quan sát nhanh do sự khác biệt ở những chi tiết nhỏ. Con cái có màu xỉn hơn ánh xanh lục, ít gặp hơn con đực. Bướm cái lớn hơn và có màu đất nâu hơi xám ánh xanh lục với dải trắng và hoa văn lượn sóng ở hai cánh.
Sinh học, sinh thái:
Đặc điểm chung: Rất phổ biến trong rừng vào mùa mưa. Thường gặp ven đường mòn. Tương tự các loài khác trong cùng nhóm (tộc phụ Vagrantini), khi đậu xuống mặt đất để hút khoáng, ban đầu nó thường bò đi bò lại, đến khi tìm được chỗ thích hợp mới ngưng, trong lúc bò cánh thường khép vào mở ra. Sâu ăn lá họ cây Nhãn lồng Passifloraceae là ký chủ của các loài sâu Bướm nhãn lồng đỏ Acraea violae, Bướm báo hoa vàng Cethosia cyane. Bướm cái ít gặp hơn bướm đực, chủ yếu ở trong rừng. Bướm đực gặp khá phổ biến gần nguồn nước. Vì sâu non còn ăn lá cây chùm bao Passiflora foetida và nên chúng thường cạnh tranh thức ăn với một số loài bướm như Cethosia cyane, Acraea violae …
Phân bố:
Trong nước: Đây là một trong những loài phổ biến nhất, có khắp nơi ở Việt Nam. Ở mọi độ cao, đặc biệt phổ biến ở độ cao 1.200 m và các rừng thứ sinh, trảng cỏ, bụi cây ở độ cao dưới 700 m
Nước ngoài: Phân bố từ Ấn Độ đến Trung Quốc và hầu khắp Đông nam Á, đến Sunderland.
Giá trị, tình trạng và biện pháp bảo vệ:
Loài bướm to có màu vàng cam sặc sỡ và đẹp, đặc biệt nổi bật trong hộp màu tiêu bản. Chúng tô điểm cho nơi chúng bay và đậu ở ngoài thiên nhiên. Phân bố rộng và thường gặp. Bảo vệ rừng tốt chính là bảo vệ nơi cư trú và cuộc sống của chúng.
Mô tả loài: Vũ Văn Liên – Bảo tàng thiên nhiên Việt Nam, Phùng Mỹ Trung – WebAdmin.
- Documentation and reference sources:001
-
Vòng tròn khép kín đầy ma mị trong thế giới tự nhiên !19 Tháng 5, 2026 -
Bọ ngựa hoa lan, bậc thầy ngụy trang để sinh tồn !19 Tháng 5, 2026 -
Tại sao các loài thú ăn thực vật mà vẫn to lớn và cơ bắp ?7 Tháng 5, 2026 -
Bay trong đêm tối để kiếm ăn cùng với loài chồn bay13 Tháng 4, 2026 -
Sát thủ rừng xanh một thời, nay đã hoàn lương13 Tháng 4, 2026
Bài liên quan
Trĩ sao
Tên tiếng Anh:Vietnamese crested argus
Tên Latin:Rheinartia ocellata
Bào ngư hình vành tai
Tên tiếng Anh:Ass's-ear abalone
Tên Latin:Haliotis asinina
Ếch cây nếp da mông
Tên tiếng Anh:Spinybottom tree frog
Tên Latin:Rhacophorus exechopygus
Côn trùng Insecta
Thực vật Plantae
Nấm Fungi
Tô sơn Toricelliaceae