TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Tô Văn Quang

Bướm ê ke xanh

Tên tiếng Anh: Great jay
Tên Latin: Graphium eurypylus
Đồng danh: Papilio eurypylus Linnaeus, 1758
Đồng danh: Chlorisses harrietta Swainson, 1851
Đồng danh: Papilio arctofasciatus Lathy, 1899
Đồng danh: Papilio eurypilus subsp. insularis Rothschild, 1896
Tên khác: Bướm phượng đuôi chim lớn
  • Độ cao so mặt nước biển 800 M
  • Mã định danh001
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

BƯỚM Ê KE XANH

Graphium eurypylus (Linnaeus, 1758)
Papilio eurypylus Linnaeus, 1758
Chlorisses harrietta Swainson, 1851
Papilio arctofasciatus Lathy, 1899
Papilio eurypilus subsp. insularis Rothschild, 1896
Họ: Bướm phượng Papilionidae
Bộ: Cánh vẩy Lepidoptera

Đặc điểm nhận dạng:
Loài này dễ nhầm với Graphium doson và Graphium arycles, tuy nhiên Graphium eurypylus vẫn có thể phân biệt được bởi những chi tiết khác nhau về cấu trúc và cách sắp xếp của các đốm xanh và đặc biệt là mặt dưới cánh sau. Con đực và con cái giống nhau. Ở mặt trên, cánh trước có 3 vạch mỏng, ngắn, nhỏ ở gốc của phần trung tâm màu xanh nhạt, phía bên trên đỉnh của vùng trung tâm có thêm 2 đốm cùng màu. Phần giữa của cánh là một dải các vạch màu xanh liên tục kéo dài từ 2 đến 5 với độ lớn nhỏ dần, theo đó dải số 5 là nhỏ nhất, trên đó là hai chấm nhỏ của gốc dải số 7 và kết thúc bằng một chấm của dải số 8, tất cả đều màu xanh nhạt. Viền cánh được trang trí bằng một dải vòng cung các chấm màu xanh nhạt. Ở cánh sau, vùng giữa là một dải như là nối tiếp phần giữa của cánh trước, có phần trên màu trắng, và xanh dần ở phần dưới. Các chấm xanh ở cánh trên như được kéo dài, nối tiếp bằng hệ thống các chấm ở mép cánh sau. Ở mặt sau, có một dải trắng kéo dài từ gốc cánh đến mép trong cánh, với màu nền là màu đen tuyền, có một chấm đỏ ở vị trí 8,1,2,3, một chấm hình chữ nhật màu đen ở đỉnh vùng trung tâm, một dải màu trắng ở phần giữa sát gốc. Và cuối cùng là mép ngoài được viền bởi các đốm xanh nhạt thành hình vòng cung. Sải cánh: 75 – 90 mm.
Các đặc điểm khác nhau ở 3 loài như sau:
–  Graphium doson: Vệt đen ngắn xéo từ mép trên xuyên qua đốm màu đỏ không chạm vệt đen dọc thân.
–  Graphium arycles: Vệt đen ngắn xéo từ mép trên xuyên qua đốm màu đỏ chạm vệt đen dọc thân tạo thành hình chữ Y.
–  Graphium eurypylus: Vệt đen dài thẳng từ mép trên xuyên qua đốm màu đỏ chia các vệt đốm xanh ở giữa cánh thành hai hàng tách biệt.
Sinh học, sinh thái:
Là loài khá phổ biến, thường tập trung số đông cùng với nhiều loài khácvở các vũng nước đọng trong rừng tự nhiên, nơi có các lối mòn đi trong rừng và dọc sống, suối, nhất là nơi có chất thải động vật để hút khoáng chất. Khi trứng bắt đầu nở, ấu trùng có màu đen, khi lớn dần lên có màu nâu và chuyển thành màu xanh lá cây và màu sắc này vẫn được giữ nguyên, tuy nhiên hơi xỉn hơn khi chúng chuyển sang dạng nhộng. Sâu non ăn các loài thực vật thuộc họ Cam Ruataceae. Con trưởng thành có màu nền đen, với các màu xanh và trắng được bố trí không đồng đều và phía sau thì được điểm thêm một số màu đỏ nữa.              
Phân bố:
Trong nước: Việt Nam chúng là loài không phổ biến. Sống ở độ cao dưới 700 m ở các khu rừng thứ sinh và trảng cây bụi, thảm cỏ.
Nước ngoài: Đông bắc và Nam Á (Sikkim, Myanmar, Thái Lan, Lào, Cambodia, Malaysia)
Giá trị, tình trạng và biện pháp bảo vệ:
Cũng như loài Graphium sp. khác, loài này tuy phổ biến nhưng có màu sắc đẹp, mượt mà và rất thu hút sự quan tâm của các nhà sưu tầm, yêu thiên nhiên nên đã thu bắt chúng quá mức, dễ dẫn tới giảm thiểu số lượng cá thể của chúng một cách nhanh chóng. Có thể nhân nuôi chúng ở các trang trại hoặc công viên, nơi vui chơi giải trí, chúng không phải là đối tượng dịch hại.

Mô tả loài: Tô Văn Quang – Phùng Mỹ Trung – WebAdmin.

  • Documentation and reference sources:001

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae