TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Bướm đêm frith

Tên tiếng Anh: Frith's tasar silk moth
Tên Latin: Antheraea frithi
Đồng danh: Antheraea frithi tonkinensis Bouvier, 1936
Đồng danh: Antheraea frithi Moore, 1858
Đồng danh: Antheraea frithi tonkinensis Bouvier, 1936
Đồng danh: Antheraea frithi Moore, 1858
Tên khác: Bướm tằm frithi
  • Độ cao so mặt nước biển 1000 M
  • Mã định danh001
  • Xác định bởiTô Văn Quang

BƯỚM ĐÊM FRITH

Antheraea frithi Moore, 1858
Antheraea frithi tonkinensis Bouvier, 1936
Họ: Bướm ma Saturniidae
Bộ: Cánh vẩy Lepidoptera

Đặc điểm nhận dạng:
Loài bướm đêm có sải cánh 14 – 16 cm. Bướm cái lớn hơn bướm đực. Hai cánh có màu nâu xám hoặc màu cam, bướm cái màu nhạt hơn bướm đực. Ở mỗi cánh có một đốm tròn trong suốt ở giữa được bao quanh bởi các sọc đen, đỏ, xanh lam hoặc trắng và một vệt dài màu trắng hay nâu đỏ dọc theo mép ngoài cánh. Antheraea frithi trưởng thành không ăn và sống trong khoảng 1 – 2 tuần để kết đôi, giao phối và đẻ trứng.
Sâu non mới nở có màu nâu, sau chuyển sang hơi vàng trước khi lột xác lần đầu. Sau nhiều lần lột xác, sâu non mọc lông trắng và chuyển qua lông đen trên các nhú gai. Thời gian lột xác 5 lần trước khi chuyển qua giai đoạn vào kén. Nhộng có màu đỏ và dài khoảng 3 – 4 cm, trọng lượng từ 3 – 8 g tùy thuộc vào giới tính và quá trình phát triển. Kén được dệt giữa lá và cành cây. Trong tự nhiên Antheraea frithi phát triển 2 vòng đời một năm. Nhộng bước vào trạng thái ngủ đông tháng 11 và duy trì trạng thái này cho đến tháng 3 – 4 năm sau.
Sinh học, sinh thái:
Khác với bướm ngày, các loài bướm đêm không có anten phình ra ở phần chót, một số loài anten dang lông chim. Khi đậu chúng không thể khép cánh như bướm ngày. Sâu non của chúng có thể ăn được trên nhiều loại cây khác nhau, trong đó có cây Họ Dầu Dipterocarpaceae, điển hình là cây Sao đen Hopea odorata và cây Dầu con rái Dipterocarpus alatus.
Phân bố:
Trong nước: Loài này được ghi nhận ở cao nguyên miền Trung Việt Nam. Ở các tỉnh miền Đông nam bộ là loài Antheraea frithi, sâu non của chúng cũng ăn trên cây họ Dầu Dipterocarpaceae.
Nước ngoài: Ấn Độ, Srilanca, Trung Quốc.
Tình trạng:
Rất hiếm, kích thước lớn và hình thái đẹp, loài có thể nghiên cứu cây chủ của chúng để nhân nuôi tạo ra tơ phục vụ đời sống.
Biện pháp bảo tồn:
Do môi trường sống của chúng là rừng ở khu vực núi cao thuộc các VQG ở Miền nam Trung bộ, việc bảo vệ rừng ở những khu vực trên là rất cần thiết, đó chính là bảo vệ sự tồn tại của loài bướm đêm đẹp và có ích này trong tương lai.

Mô tả loài: Tô văn Quang – Phùng Mỹ Trung – WebAdmin.

  • Documentation and reference sources:001

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae