TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Bướm đêm atlas mã lai

Tên tiếng Anh: Ancient malay atlas moth
Tên Latin: Archaeoattacus malayanus
Đồng danh: Archaeoattacus edwardsii White, 1859
Đồng danh: Attacus edwardsii malayanus Kurosawa & Kishida, 1984
Đồng danh: Archaeoattacus edwardsii White, 1859
Đồng danh: Attacus edwardsii malayanus Kurosawa & Kishida, 1984
Tên khác: Bướm đêm mã lai atlas

BƯỚM ĐÊM ATLAS MÃ LAI

Archaeoattacus malayanus Kurosawa & Kishida, 1984
Archaeoattacus edwardsii White, 1859
Attacus edwardsii malayanus Kurosawa & Kishida, 1984
Họ: Ngài hoàng đế Saturniidae
Bộ: Cánh vẩy Lepidoptera

Đặc điểm nhận dạng:
Giống Archaeoattacus hiện có khoảng 4 loài còn sống gồm Archaeoattacus malayanus, Archaeoattacus edwardsii, Archaeoattacus staudingeriArchaeoattacus vietnamensis Archaeoattacus staudingeri không ghi nhận ở Việt Nam. Trước đây loài Archaeoattacus malayanus được xem là phân loài của Archaeoattacus edwardsii. Các nghiên cứu phân loại, nhờ vào công nghệ di truyền sau năm 2010 đã tách các quần thể Đông Nam á thành những loài riêng biệt, trong đó có Archaeoattacus malayanus. Đây là một trong những loài bướm đêm có kích thước khổng lồ ở châu Á. Sải cánh có thể đạt ≈ 20 – 25 cm (gần bằng kích thước sải cánh của Attacus atlas27 – 30 cm, có thể lên tới khoảng 350 – 400 cm², đây là những loài côn trùng cánh vảy có diện tích cánh lớn nhất thế giới và rất đễ nhầm lẫn về hình thái giữa các loài).
Archaeoattacus malayanus có cánh màu nâu sẫm đến nâu nhạt với các vệt trắng nổi bật. Cánh trước khá dài và hơi nhọn. Con cái thường to hơn con đực. Nhìn bề ngoài rất dễ nhầm lẫn với Attacus atlas. Sâu non lớn, thân mập và phủ lớp bột sáp trắng. Giai đoạn non đầu có thể trắng với sọc đen. Nhộng kéo kén tơ lớn gắn trên cành cây. Nhộng nằm trong kén dày màu nâu.
Sinh học, sinh thái:
Bướm trưởng thành không ăn mà sống nhờ năng lượng tích lũy từ giai đoạn sâu. Hoạt động chủ yếu về đêm. Thời gian sống ngắn, chỉ vài ngày đến 1 tuần sẽ chết sau khi giao phối và đẻ trứng. Con cái tiết pheromone để thu hút con đực. Cây ký chủ của sâu bướm được ghi nhận trên nhiều loài thực vật khác nhau như Machilus sp., Prunus sp., Ailanthus altissima, Ilex chinensis. Ngoài ra khi nuôi nhân tạo, sâu có thể ăn nhiều cây khác như Ligustrum sp., Populus sp., Fraxinus sp., Phổ biến ở rừng núi nhiệt đới ẩm. Thường gặp ở độ cao trung bình đến cao trong rừng Đông nam Á. Loài này thường bị thu hút bởi ánh đèn.
Việt Nam đã ghi nhận có 3 loài thuộc giống Archaeoattacus
Bướm đêm atlas edwards Archaeoattacus edwardsii – Ghi nhận ở miền Bắc Việt Nam, khu vực Lào Cai/Sapa – Vườn quốc gia Hoàng Liên.
Bướm đêm atlas mã lai Archaeoattacus malayanus – Ghi ở miền Bắc, miền Trung Việt khu vực Vườn quốc gia Hoàng Liên, Lào Cai và Khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Linh, Kontum.
Bướm đêm atlas việt nam Archaeoattacus vietnamensis – Loài đặc hữu của Việt Nam, được ghi nhận và mô tả ở Vườn quốc gia Bidoup – Núi Bà, Lâm Đồng . Ngoài ra một số mẫu cũng được ghi nhận ở một số khu vực thuộc miền Trung và miền Nam Việt Nam.
Phân bố:
Trong nước: Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, dãy Trường Sơn phía Bắc Nghệ An Hà Tĩnh.
Nước ngoài: Loài này phân bố ở Đông Nam Á lục địa và vùng lân cận, gồm: Trung Quốc (Vân Nam), Myanmar, Thái Lan, Campuchia, Lào, Malaysia, Brunei.
Giá trị:
Là loài bướm đêm có kích thước lớn trong các loại bướm đêm của vùng Đông nam Á, đẹp và rất được ưa thích trong các bộ sưu tập.
Đề nghị biện pháp bảo vệ:
Ngày càng hiếm do môi trường thay đổi và phun thuốc trừ sâu. Cần hạn chế dùng thuốc trừ sâu ở các vườn. Không săn bắt, đưa vào nuôi nhốt bán tự nhiên để giữ nguồn gen.

Mô tả loài: Tô Văn Quang, Phùng Mỹ Trung – WebAdmin.

  • Documentation and reference sources:001

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae