TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Bướm đêm ailanthus

Tên tiếng Anh: Ailanthus silkmoth
Tên Latin: Samia cynthia
Đồng danh: Phalaena cynthia Drury, 1773
Đồng danh: Samia advena Packard, 1914
Đồng danh: Phalaena cynthia Drury, 1773
Đồng danh: Samia advena Packard, 1914
Tên khác: Bướm tằm ailanthus
  • Độ cao so mặt nước biển 200 M
  • Mã định danh001
  • Xác định bởiTô Văn Quang

BƯỚM ĐÊM AILANTHUS

Samia cynthia Drury, 1773
Phalaena cynthia Drury, 1773
Samia advena Packard, 1914
Họ: Bướm ma Saturniidae
Bộ: Cánh vẩy Lepidoptera

Đặc điểm nhận dạng: 
Bướm trưởng thành có sải cánh dài khoảng 100 – 150 mm. Cánh có màu nâu xám hoặc nâu đỏ, có dải trắng hoặc kem chạy ngang cánh. Mỗi cánh có đốm hình bầu dục trong suốt (hyaline spot). Mép cánh hơi lượn sóng. Thân khá to, phủ lông dày. Râu đầu ở bướm đực có râu lông chim phát triển mạnh để phát hiện pheromone của con cái. Con cái râu đầu nhỏ hơn. Sâu non có màu xanh lục, thân khá mập. Trên mỗi đốt có các u lồi màu xanh hoặc vàng nhạt. Hai bên thân thường có chấm trắng nhỏ. Khi sắp hóa nhộng, sâu non dệt kén tơ màu nâu vàng, khá bền. Nhộng nằm trong kén tơ hình bầu dục. Kén thường được treo trên cành hoặc lá cây ký chủ.
Sinh học, sinh thái:
Thức ăn sâu non chủ yếu là các loài cây thuộc họ Thanh thất Simaroubaceae, đặc biệt cây Thanh thất núi Ailanthus altissima. Ngoài ra có thể ăn một số cây khác thuộc chi Ligustrum, Prunus, Rhus. Bướm trưởng thành không ăn, sống nhờ năng lượng tích lũy từ giai đoạn sâu. Hoạt động chủ yếu về đêm.
Phân bố:
Trong nước: Được nhập trứng về nuôi lấy tơ
Nước ngoài: Loài này có nguồn gốc Đông Á, phân bố tự nhiên ở Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc.
Giá trị:
Ngoài phân bố tự nhiên thì loài này còn được du nhập sang nhiều nơi để nuôi tằm lấy tơ. Ấu trùng của Samia cynthia được nuôi để sản xuất tơ Ailanthus vì tơ khá bền, thô và chịu lực tốt. Màu tơ thường trắng ngà đến vàng nhạt. Tuy chất lượng tơ không mịn bằng tơ của Tằm ăn lá dâu Bombyx mori, nhưng có ưu điểm là dễ nuôi Ít bệnh, có thể nuôi ngoài trời. Ở một số nơi, loài này được nuôi trên cây Thanh thất núi Ailanthus altissima để khai thác tơ. Là nguồn thức ăn cho chim và dơi. Ấu trùng ăn lá cây nên tham gia chu trình dinh dưỡng trong hệ sinh thái rừng.

Mô tả loài: Tô Văn Quang. Phùng Mỹ Trung – WebAdmin.

  • Documentation and reference sources:001

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae