TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Bướm chanh di cư

Tên tiếng Anh: Lemon emigrant
Tên Latin: Catopsilia pomona 
Đồng danh: Papilio pomona Fabricius, 1775
Đồng danh: Papilio crocale Cramer, 1775
Đồng danh: Papilio jugurtha Cramer, 1777
Đồng danh: Catopsilia pomona subsp. rivalis Fruhstorfer, 1910
Tên khác:
  • Độ cao so mặt nước biển 1500 M
  • Mã định danh001
  • Xác định bởiTô Văn Quang

BƯỚM CHANH DI CƯ

Catopsilia pomona (Fabricius, 1775)
Papilio pomona Fabricius, 1775
Papilio crocale Cramer, 1775
Papilio jugurtha Cramer, 1777
Catopsilia pomona subsp. rivalis Fruhstorfer, 1910
Họ: Bướm phấn Pieridae
Bộ: Cánh vẩy Lepidoptera

Đặc điểm nhận dạng:
Mặt dưới màu trắng, vàng nhạt và phần rìa ngoài, trên cánh trước được viền bằng màu đen. Con đực đặc trưng bởi vệt giới tính hình oval ở gốc khoảng 7 ở mặt trên cánh sau, và lông màu chì gần gốc, lưng ở mặt dưới của cánh trước. Một trong những loài phổ biến nhất thuộc họ Bướm phấn Pieridae. Đây là loài có nhiều dạng khác nhau. Dạng phổ biến và thường gặp nhất ở con đực là màu nền của cánh xanh đọt chuối. Con cái có nhiều dạng khác nhau, phổ biến nhất là dạng màu vàng nhạt ở mặt trên với viền đen ở mép cánh, mặt dưới cánh sau. Sải cánh: 55 – 80 mm.
Sinh học, sinh thái:
Vào mùa khô có thể gặp hàng đàn bay trong thành phố hoặc tập trung rất nhiều ở những vũng nước tại các khoảng trống trong rừng lẫn thành phố, phần lớn là con đực. Sự phổ biến của loài này, ngoài đặc tính di cư, còn liên quan đến sự phổ biến của loài cây chủ (các loài cây thuộc chi Muồng Cassia, Họ Đậu Fabaceae). Loài này bay nhanh nhưng dễ nhận biết bởi màu sắc đặc trưng. Thường gặp nhiều ở vùng thấp có rừng thứ sinh hoặc khu vực gần nhà ở. Thông thường loài bướm này ở những vùng rừng có độ cao tới 1.500 m. Bướm hay tụ tập ở những chỗ đất ẩm ướt dọc lề đường. Chúng có cánh khoẻ ,có thể gặp cả đàn lớn bay thẳng đứng lên. Cũng như loài bướm khác, vòng đời biến thái hoàn toàn của chúng cũng trải qua 4 giai đoạn.
Phân bố:
Trong nước: Đây là loài phổ biến khắp nơi ở Việt Nam.
Nước ngoài: Phân bố từ Ấn Độ qua Myanmar, Thái Lan, Trung Quốc đến Đài Loan  và Nam Nhật Bản; phía Nam qua Đông Dương, Philippine và bán đảo Malaysia đến quần đảo Sanda, phía Đông đến New Ghine và Australlia.
Giá trị:
Có giá trị cho việc làm bộ sưu tập, ghép tranh vì có màu sắc sáng đẹp. Tuy sống trên cây Họ Đậu Fabaceae, nhưng chưa gây thành dịch hại.

Mô tả loài: Vũ văn Liên – Bảo tàng thiên nhiên Việt Nam, Phùng Mỹ Trung – WebAdmin.

  • Documentation and reference sources:001

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae