TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Bướm bụi nâu dải trắng

Tên tiếng Anh: White-bar bushbrown
Tên Latin: Mycalesis anaxias
Đồng danh: Mycalesis anaxias aemate Godfrey,1916
Đồng danh: Mycalesis anaxias anaxias Pendlebury,1923
Đồng danh: Mycalesis anaxias aemate Godfrey,1916
Đồng danh: Mycalesis anaxias anaxias Pendlebury,1923
Tên khác: Bướm bụi băng trắng
  • Độ cao so mặt nước biển 600 M
  • Mã định danh001
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

BƯỚM BỤI NÂU DẢI TRẮNG

Mycalesis anaxias Hewitson, 1862
Mycalesis anaxias aemate Godfrey,1916
Mycalesis anaxias anaxias Pendlebury,1923
Họ: Bướm nhày Nymphalidae
Bộ: Cánh vẩy Lepidoptera

Đặc điểm nhận dạng: 
Sải cánh 48 – 55 mm. Ở mặt trên của cánh trước có dải ở gần chót cánh sáng trắng rõ rệt và xiên mạnh nhưng chỉ nằm trong lòng ô cánh chứ không kéo dài đến các mép cánh, không có mắt ở khoảng 2. Mặt trên cánh sau con đực màu đen và không có mắt nào ở mặt trên nói chung. Mycalesis là giống bướm phức tạp về mặt phân loại. Nhóm bướm này có kích thước tương đối nhỏ, mặt trên màu nâu hoặc xám, nhiều loài có một đốm mắt lớn ở mặt trên cánh trước, mặt dưới cánh có một chuỗi các đốm mắt chạy gần rìa cánh. Có hai dạng theo mùa rõ rệt, dạng mùa khô đốm mắt tiêu giảm, nhiều khi biến mất hoàn toàn. Mức độ tiêu giảm đốm mắt rất khác nhau, tạo ra nhiều dạng trung gian, khiến cho việc nhận diện càng khó khăn khi chỉ quan sát hình thái ngoài.
Dạng mùa mưa của bướm đực và bướm cái: Mặt trên màu nâu xỉn, nhạt hơn ở con cái; các đường mảnh gần đầu và cuối trên 2 cánh có màu vàng nhạt (nâu vàng): lông mao màu nâu. Cánh trước có một dải ngắn trước đỉnh màu trắng xiên. Mặt dưới ở cánh trước: vùng gốc lên đến dải màu trắng và theo đường ngang từ đầu dưới của dải đến lưng, màu nâu đen; mép cuối vượt ra ngoài màu nâu nhạt hơn rộng; một ô đen có vành màu trắng ở giữa ở khoảng giữa 2 và hai ô nhỏ hơn tương tự ở trước đỉnh, theo sau là một ô dưới đầu rất ngoằn ngoèo và một đường màu nâu sẫm ở đầu thẳng hơn. Cánh sau: hai phần ba gốc màu nâu đen, viền cuối nhạt hơn rộng, thường có bảy ô tương tự như những ô trên cánh trước và các đường màu nâu sẫm gần đầu và đầu cuối.
Dạng mùa khô của bướm đực và bướm cái: Mặt trên như ở dạng mùa mưa. Mặt dưới khác biệt ở chỗ mắt đơn không rõ ràng hoặc không có, và các đường tối ở đầu và cuối trên cả cánh trước và cánh sau không có hoặc rất mờ; mép cuối có màu nâu hung (đỏ) rộng, phai dần vào trong thành màu hoa cà, thanh trắng xiên trên cánh trước lan tỏa ra ngoài. Râu, đầu, ngực và bụng màu nâu sẫm; râu màu vàng đất về phía đỉnh.
Sinh học, sinh thái:
Loài bay thấp, gần các đám cỏ ven đường mòn. Trong các khu rừng thường xanh ở độ cao trên 600m chúng thường sống gần các bụi cây nhỏ hoặc những đám thảm mục thực vật dày. Bay chậm và đậu lại ở một khoảng cách gần khi bị tác động. Sống chủ yếu ở độ cao dưới 1.200 m, nhiều hơn ở vùng thấp, trong các khu rừng thứ sinh và trảng cỏ, bụi cây.
Phân bố:
Trong nước: Loài này phân bố khắp các khu vực có rừng.
Nước ngoài: Ấn Độ, Myanmar, Thái Lan, Lào, Cambodia.

Mô tả loài
: Vũ Văn Liên – Bảo tàng thiên nhiên Việt Nam, Phùng Mỹ Trung – WebAdmin.

  • Documentation and reference sources:001

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae