Bồng chanh
| Tên tiếng Anh: | Common kingfisher |
|---|---|
| Tên Latin: | Alcedo atthis |
| Đồng danh: | Alcedo bengalensis Gmelin, 1788 |
| Đồng danh: | Gracula atthis Linnaeus, 1758 |
| Đồng danh: | Alcedo bengalensis Gmelin, 1788 |
| Đồng danh: | Gracula atthis Linnaeus, 1758 |
| Tên khác: | Bói cá thường |
- Độ cao so mặt nước biển 600 M //php } ?>
- Mã định danh002
- Xác định bởiPhùng Mỹ Trung
- Phân bố Việt Nam Hầu khắp khu vực có rừng ở Việt Nam Vườn quốc gia Cát Tiên, Việt Nam Hầu hắp các vùng châu Á Hầu khắp Đông nam Á Vườn quốc gia Cát Bà, Việt Nam
- Môi trường sống Trên cạn Rừng kín lá rộng thường xanh nhiệt đới Rừng hỗn giao cây gỗ lớn và lồ ô, tre, nứa Đất nông nghiệp và khu vực ngập nước Ao, hồ, đầm lầy, sông, suối, khu vực ngập nước nơi phân bố
BỒNG CHANH
Alcedo atthis Gmelin,1788
Alcedo bengalensis Gmelin, 1788
Gracula atthis Linnaeus, 1758
Họ: Bói cá Alcedinidae
Bộ: Sả Coraciiformes
Chim trưởng thành:
Đầu, gáy và sau cổ có vằn đen phớt xanh và ánh da trời xen kẽ nhau. Lưng, hông và trên đuôi xanh da trời óng ánh. Vai và bao cánh xanh phớt lục, mút các lông đều có điểm xanh da trời, trừ các lông bao cánh sơ cấp. Lông cánh đen nhạt, viền lục nhạt. Đuôi xanh thẫm ở mặt trên, nâu thẫm ở mặt dưới. Cánh: 68 – 75; đuôi: 31 – 32; giò: 9 – l0; mỏ: 34 – 40mm.
Trước mắt và một dải đi qua mắt đen. Hai bên trán: trên má và tai hung nâu. Một dải rộng bắt đầu từ mép kéo dài xuống hai bên cổ xanh phớt lục. Cằm và họng trắng. Hai bên ngực xanh xỉn. Phần còn lại ở mặt bụng hung nâu. Mắt nâu. Mỏ đen, ở chim cái và chim non, gốc mỏ dưới đỏ nhạt hay vàng cam.
Sinh học, sinh thái:
Loài chim nước, sống ở các khu vực thủy vực nước ngọt, đôi khi gặp cả ở vùng nước mặn, bán ngập mặn. Thức ăn chủ yếu là các loài cá nhỏ, tôm cua và cả lưỡng cư. Làm tổ, đẻ trứng ở các hốc cây hay các bờ đất, chúng đào đất làm tổ, con non mới nở chưa mở mặt, thức ăn là các loài cá nhỏ.
Phân bố:
Trong nước: Bồng chanh có ở khắp các núi từ vùng đồng bằng đến vùng núi, những chỗ không cao quá 600 m.
Nước ngoài: Bồng chanh phân bố ở Bắc Ấn Độ, Myanmar, Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam, Trung Quốc, đông Bắc Mông cổ, Nhật Bản, Triều Tiên và Đông nam vùng Siberia (Liên xô). Về phía Nam, vùng phân bố của bồng chanh kéo dài quá Malaysia đến Sumatra, Java, Borneo và Philipine.
Tài liệu dẫn: Chim Việt Nam hình thái và phân loại – Võ Qúi – tập 1 trang 547.
- Documentation and reference sources:
-
Vòng tròn khép kín đầy ma mị trong thế giới tự nhiên !19 Tháng 5, 2026 -
Bọ ngựa hoa lan, bậc thầy ngụy trang để sinh tồn !19 Tháng 5, 2026 -
Tại sao các loài thú ăn thực vật mà vẫn to lớn và cơ bắp ?7 Tháng 5, 2026 -
Bay trong đêm tối để kiếm ăn cùng với loài chồn bay13 Tháng 4, 2026 -
Sát thủ rừng xanh một thời, nay đã hoàn lương13 Tháng 4, 2026
Bài liên quan
Mỡ phú thọ
Tên tiếng Anh:Phutho manglietia
Tên Latin:Manglietia phuthoensis
Rắn đẻn gai
Tên tiếng Anh:Spine-bellied sea snake
Tên Latin:Hydrophis hardwickii
Niệc mỏ vằn
Tên tiếng Anh:Wreathed hornbill
Tên Latin:Aceros undulatus
Côn trùng Insecta
Thực vật Plantae
Nấm Fungi
Tô sơn Toricelliaceae