TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Bồng bồng

Tên tiếng Anh: Crown flower
Tên Latin: Calotropis gigantea
Đồng danh: Asclepias gigantea L. (1753)
Đồng danh: Madorius giganteus (L.) Kuntze (1891)
Đồng danh: Asclepias argentata Noronha (1790)
Đồng danh: Periploca chinensis Decne (1844)
Tên khác: Cây lá hen

BỒNG BỒNG

Calotropis gigantea (L.) W.T.Aiton (1811)
Asclepias gigantea L. (1753)
Madorius giganteus (L.) Kuntze (1891)
Asclepias argentata Noronha (1790)
Periploca chinensis Decne (1844)
Họ: Thiên lý Asclepiadaceae
Bộ: Long đởm Gentianales

Đặc điểm nhận dạng:
Cây nhỏ, cao 1 – 3 m, mang lá ở ngọn; trên thân thường có vết sẹo của những lá đã rụng. Lá hẹp, ôm thân, không cuống, dài 20 – 35 cm, rộng 1,2 – 4cm, thon lại thành mũi ở đầu, có rạch theo các gân. Hoa hình ống, dài 20 – 25 cm, màu lam ở ngoài, trắng ở trong xếp nhóm 1 – 3 cái, thành chuỳ ở ngọn dài 40cm hay hơn, có nhánh trải ra, dài 10 – 20 cm. Quả dạng quả đại, hình giáo, đường kính 10 – 15cm, tuỳ theo quả có 1 hay 2 hạt. Hạt có mào lông. Toàn cây có nhựa mủ.
Sinh học sinh thái:
Mọc rải rác ở hầu khắp các vùng đất cát ven biển hay thung lũng, khe suối dưới chân núi, ở độ cao 200 m. Cây ưa sáng, chịu khô hạn và chịu đất cát, đất bạc màu. Tái sinh hạt và chồi đều rất tốt.
Phân bố:
Trong nước: Cây mọc nhiều nơI từ Bắc đến Nam. Thường mọc trên đất có cát ở các tỉnh ven biển, nhưng cũng gặp ở đồng bằng và cả ở vùng trung du. Cây cũng thường được trồng bằng những đoạn cành.
Nước ngoài: Ấn Độ, Srianca, Myanmar, Trung Quốc, Indonesia, Malaysia.
Công dụng:
Có khi được trồng làm cây cảnh, làm hàng rào. Lá thường dùng trị ho, hen suyễn, lở ngứa. Còn dùng chữa ngộ độc, rắn cắn, mụn mủ, bướu, đinh nhọt, đau răng, đau miệng, đau mắt, đau tim, bệnh hoa liễu, bệnh đậu mùa, bệnh ngoài da, vết cắn, vết đứt và các vết thương khác.
Ở Ấn Độ, người ta còn dùng cồn thuốc chiết từ lá để đIều trị bệnh sốt rét cơn. Nhựa mủ dùng với liều thấp làm thuốc gây nôn, liều cao sẽ gây độc. Thường dùng chữa kiết lỵ nhẹ. Dùng ngoài đắp trị viêm khớp, đắp lên các ghẻ mụn, các vết loét, lậu, giang mai. Trộn với mật ong dùng để đắp lên các mụn loét trong miệng. Tẩm vào bông rồi vò viên nhét vào lỗ răng đau sẽ làm ngưng đau nhức. Nhựa cây phối hợp với nhựa xương rồng 5 cạnh làm thuốc xổ; cũng dùng gây nôn với liều cao và còn dùng để đều trị bệnh phong hủi, kiết lỵ và dùng đắp trị bệnh sưng chân voi. Hoa nghiền bột dùng trị cảm, ho hen và tiêu hoá kém. Ở Trung Quốc, người ta dùng lá trị háo suyễn, ho gà, viêm nhánh khí quản; vỏ rễ dùng trị ghẻ và bệnh giang mai.

Mô tả loài: Trần Hợp  –  Phùng Mỹ Trung  –  WebAdmin.

  • Documentation and reference sources:003

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae