TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Nguyễn Cường - Cát Tiên

Bò tót

Tên tiếng Anh: Gaur
Tên Latin: Bos gaurus
Đồng danh: Bos frontalis Lambert, 1804
Đồng danh: Bos gavaeus Colebrook, 1805
Đồng danh: Bos sylhetanus Cuvier, 1824
Đồng danh: Bos gour Hardwike, 1827
Tên khác: Min
  • Độ cao so mặt nước biển 1500 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

BÒ TÓT

Bos gaurus Smith, 1827
Bos frontalis Lambert, 1804
Bos gavaeus Colebrook, 1805
Bos sylhetanus Cuvier, 1824
Bos gour Hardwicke, 1827
Họ: Trâu bò Bovidae
Bộ: Ngón chẵn Artiodactyla

Đặc điểm nhận dạng:
Cỡ lớn trong bộ Ngón chẵn Artiodactyla, to, khoẻ. Thân dài 2,5 – 3 m. Trọng lượng 900 – 1.000 kg. Đầu to, trán dẹt hơi lõm, có đốm lông trắng trên trán, đỉnh trán giữa hai sừng dô cao. Sừng to khoẻ cân đối, uốn cong lên phía trên tạo vòng cung hình bán nguyệt. Gốc sừng mầu vàng xám, mút sừng nhọn đen bóng. Lớp da ở cổ và trước ngực không tạo thành yếm. Bộ lông ngắn mềm mượt mầu nâu thẫm hoặc đen xám hơi phớt xanh bóng ở lưng. Lông ở bụng dài mầu nâu nhạt. Con cái thường có mầu hung đỏ. Mông đen, bốn chân từ khoeo trở xuống mầu trắng bẩn. Đuôi dài màu đen.
Sinh học, sinh thái:
Thức ăn chủ yếu là cỏ, mầm lá non của lau sậy, chuối rừng, măng non tre nứa thuộc họ Cỏ Poaceae. Sinh sản thường vào tháng 6, 7. Mỗi năm đẻ 1 lứa , mỗi lứa 1 con. Thời gian có chửa 270 – 280 ngày. Nơi sinh sống của bò tót là rừng già thường xanh, rừng khộp, rừng hỗn giao tre nứa, rừng thứ sinh địa hình tương đối bằng ở độ cao 500 – 1.500 m so với mặt biển. Sống thành từng đàn 5 – 10 con (có đàn tới 20 – 30 con) đôi khi cũng gặp những cá thể sống đơn lẻ lẫn với đàn bò rừng. Hoạt động kiếm ăn ban ngày. Ban đêm nghỉ ngơi ở nơi quang đãng thoáng mát. Trong thiên nhiên hổ, báo, chó sói có thể tấn công đàn bò tót, khi bị tấn công cả đàn quây tròn bảo vệ con non, con già ở giữa.
Phân bố:
Trong nước: Loài này trước đây ghi nhận phân bố rất rộng từ Lai Châu vào đến Bình Thuận (Đặng Ngọc Cần và cs. 2008). Hiện nay, chỉ còn ghi nhận ở một số tỉnh Tây Nguyên và miền Nam: Kon Tum (Chư Mom Ray), Đắk Lắk (Yok Đôn, Ea Sô), Lâm Đồng (Cát Tiên), Ninh Thuận (Phước Bình), Bình Phước (Bù Gia Mập), Đồng Nai (Vĩnh Cửu, Cát Tiên).
Nước ngoài: Ấn Độ, Nepal, Myanmar, Trung Quốc, Lào, Cambodia, Thái Lan, Malaysia.
Giá trị:
Nguồn gen quý hiếm trong tự nhiên để có thể lai tạo với các giống bò khác tạo các giống cho năng suất thịt cao có sức chống chịu với bệnh tật và thời tiết khắc nghiệt. Làm thực phẩm, mỗi con cho khoảng 500 – 600kg. thịt, da cho công nghệ hàng da, sừng, xương làm hàng mỹ nghệ, trang trí.
Tình trạng:
Loài này trước đây ghi nhận phân bố rất rộng từ Lai Châu vào đến Bình Thuận nhưng hiện tại chỉ ghi nhận ở các tỉnh Tây Nguyên và miền Nam. Sinh cảnh sống bị thu hẹp và suy thoái do xâm lấn đất rừng để canh tác nông nghiệp và khai thác lâm sản. Loài này bị săn bắt quá mức làm thực phẩm ở các địa phương. Kích cỡ quần thể ước tính bị suy giảm > 50% trong vòng 30 năm qua. Số lượng cá thể ước tính < 500 và số lượng cá thể trưởng thành của mỗi tiểu quần thể < 50.
Phân hạng: EN A2cd+C2a(i).
Biện pháp bảo vệ:
Loài này có tên trong Phụ lục II CITES, Nghị định 64/2019/NĐ-CP và Nghị định 84/2021/NĐ-CP của Chính phủ. Một phần sinh cảnh sống của loài nằm trong các khu bảo tồn nên được bảo vệ. Tuy nhiên, cần thiết phải bảo vệ sinh cảnh ở các khu vực phân bố; kiểm soát chặt chẽ việc săn bắt và buôn bán trái pháp luật loài này; thực hiện các giải pháp phục hồi quần thể trong tự nhiên và chương trình nhân nuôi bảo tồn chuyển chỗ.

Tài liệu dẫnSách đỏ Việt Nam 2023 – phần động vật – trang 31.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae