TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Internet download

Bò rừng

Tên tiếng Anh: Banteng
Tên Latin: Bos javanicus
Đồng danh: Bos leucoprymmus Quoy & Gaimard, 1830
Đồng danh: Bos sondaicus Blyth, 1842
Đồng danh: Bos banteng Wagner, 1844
Đồng danh: Bos bantiger Schelegel & Müller, 1845
Tên khác: Bò banteng
  • Độ cao so mặt nước biển 1000 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

BÒ RỪNG

Bos javanicus S’Alton, 1823
Bos leucoprymmus Quoy & Gaimard, 1830
Bos sondaicus Blyth, 1842
Bos banteng Wagner, 1844
Bos bantiger Schelegel & Müller, 1845
Họ: Trâu bò Bovidae
Bộ: Ngón chẵn Artiodactyla

Đặc điểm nhận dạng:
Thân cỡ lớn. Dài tới 2,25 m, trọng lượng 600 – 800 kg. Đầu nhỏ, trán không lõm sâu, đỉnh trán giữa hai sừng không tạo thành gờ cao, không có đám lông trắng bẩn. Da dưới cổ kéo dài thành yếm nhỏ giữa cổ và ngực. Sừng nhỏ hơn sừng Bò tót, gốc sừng hình trụ, chỏm sừng nhọn, uốn cong ra phía trước. Bộ lông ở lưng màu vàng tươi chuyển sang mầu xám đen ở con già. Bụng mầu sáng hơn. Phần mông có đám lông mầu trắng rất rõ. Bốn chân từ kheo trở xuống có màu trắng. Đuôi khá dài, có lông rậm.
Sinh học, sinh thái:
Thức ăn là cỏ, lá cây. Sinh sản vào tháng 6, 7. Thời gian có chửa 270 – 280 ngày. Mỗi năm đẻ 1 lứa, mỗi lứa 1 con. Thích sống ở những cánh rừng thưa thoáng mát, nhất là rừng khộp cây Họ: Dầu Dipterocarpacae, nơi ở thường là những khu rừng rậm rạp trong thung lũng. Những vùng núi cao, núi đá thường không thấy bò rừng. Bò rừng sống thành đàn từ 10 – 30 con. Hoạt động và kiếm ăn ban ngày. Do tập tính sống đàn mà ban đêm nghỉ ngơi chúng quây thành vòng tròn, con non, con già ở giữa, con tơ khỏe ở vòng ngoài bảo vệ chống kẻ thù tấn công.
Phân bố:
Trong nước: Trước đây loài được ghi nhận ở các tỉnh: Kon Tum (Chư Mom Ray), Gia Lai (Chư Prông), Đắk Lắk (Ea Súp, Buôn Đôn, Đắk Min, Yok Đôn, Chư Yang Sin, Ea Sô, Ya Lốp, Chu Mu Lanh), Lâm Đồng (Cát Lộc), Bình Thuận (Tánh Linh), Đồng Nai (Cát Tiên), Bình Phước (Bù Gia Mập, Đồng Phú). Hiện nay, chỉ ghi nhận quần thể ở Đắk Lắk (Yok Đôn và Ea Sô).
Nước ngoài: Myanmar, Lào, Cambodia, Thái Lan, Malaysia, Indonesia
Giá trị:
Loài quý hiếm của rừng nhiệt đới, có giá trị nghiên cứu khoa học. Góp phần điều hoà số lượng thực vật trong môi trường tự nhiên và cân bằng sinh thái.
Tình trạng:
Loài này trước đây ghi nhận phân bố ở các tỉnh Tây Nguyên và miền Nam, hiện nay chỉ ghi nhận ở tỉnh Đắk Lắk. Sinh cảnh sống bị thu hẹp và suy thoái do xâm lấn đất rừng để canh tác nông nghiệp và khai thác lâm sản. Loài này bị săn bắt quá mức làm thực phẩm ở các địa phương. Kích cỡ quần thể ước tính bị suy giảm > 80% trong vòng 30 năm qua. Số lượng cá thể ước tính < 250 và số lượng cá thể trưởng thành của mỗi tiểu quần thể < 50.
Phân hạng: CR A2cd+C2a(i).
Biện pháp bảo vệ:
Loài này có tên trong Phụ lục II CITES, Nghị định 64/2019/NĐ-CP và Nghị định 84/2021/NĐ-CP của Chính phủ. Một phần sinh cảnh sống của loài nằm trong các khu bảo tồn nên được bảo vệ. Tuy nhiên, cần thiết phải bảo vệ sinh cảnh ở các khu vực phân bố; kiểm soát chặt chẽ việc săn bắt và buôn bán trái pháp luật loài này; thực hiện các giải pháp phục hồi quần thể trong tự nhiên và chương trình nhân nuôi bảo tồn chuyển chỗ.

Tài liệu dẫnSách đỏ Việt Nam 2023 – phần động vật – trang 31.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae