Bọ ngựa hoa lan
| Tên tiếng Anh: | Walking flower mantis |
|---|---|
| Tên Latin: | Hymenopus coronatus |
| Đồng danh: | Hymenopus coronatus Oliver 1792 |
| Đồng danh: | Hymenopus coronatus Oliver 1792 |
| Đồng danh: | Hymenopus coronatus Oliver 1792 |
| Đồng danh: | Hymenopus coronatus Oliver 1792 |
| Tên khác: | Bọ ngựa hồng |
- Độ cao so mặt nước biển 1000 M //php } ?>
- Mã định danh001
- Xác định bởiPhùng Mỹ Trung
- Phân bố Việt Nam Campuchia Bình Phước Đồng Nai Kiên Giang Lâm Đồng Vườn quốc gia Cát Tiên, Việt Nam Hầu khắp Đông nam Á Vườn quốc gia Bidoup-Núi Bà, Việt Nam Vườn quốc gia Bù Gia Mập, Việt Nam
- Môi trường sống Trên cạn Rừng kín lá rộng thường xanh nhiệt đới Bọ ngựa Mantis Rừng kín lá rộng nửa rụng lá nhiệt đới Rừng hỗn giao cây gỗ lớn và lồ ô, tre, nứa
- Tình trạng bảo tồn Thiếu dữ liệu DD: Data deficient
- Giá trị sử dụng Nhân nuôi để nghiên cứu và làm cảnh Loài cần được nghiên cứu, bảo tồn Cân bằng sinh thái trong chuỗi thức ăn tự nhiên
- Sinh thái Kiếm ăn ở trên các bông hoa ở rừng Côn trùng có vòng đời biến thái không hoàn toàn Côn trùng ăn thịt các loài côn trùng khác
BỌ NGỰA HOA LAN
Hymenopus coronatus Oliver 1792
Họ: Bọ ngựa hoa Hymenopodidae
Bộ: Bọ ngựa Mantoptera
Đặc điểm nhận dạng:
Kích thước cơ thể khoảng 6 cm. Con cái lớn gấp đôi con đực. Loài này rất đặc trưng bởi màu sắc sặc sỡ với cấu trúc mịn để điều chỉnh ngụy trang & bắt chước màu sắc của loài hoa chung sống. Mắt màu tím nhạt, hình tháp, đỉnh chót màu trắng. Đốt đùi của hai cặp chân sau có một mảng kittin phình rộng, ngón chân có màu nâu nhạt. Chân trước có răng cưa để bắt con mồi như loài bọ ngựa khác. Phần diềm trên của lưng có một mảng màu xanh nhạt, phần còn lại của cơ thể có màu trắng, hay hồng phụ thuộc vào loài hoa chúng định cư.
Sinh học, sinh thái:
Loài côn trùng biến thái không hoàn toàn và cơ thể thay đổi được các kiểu màu sắc gồm: hồng, trắng, nâu. Tùy thuộc màu sắc hoa mà chúng định cư để ngụy trang săn mồi. Thức ăn của chúng là các loài côn trùng trong khu vực sinh sống như ruồi, bướm … Loài này thường xuất hiện vào đầu mùa mưa khi các loài phát hoa. Đã gặp giao phối và đẻ trứng tháng 6 hàng năm ở khu vực VQG Cát Tiên và con cái có tập tính ăn thịt con đực sau khi giao phối.
Phân bố:
Ở hầu khắp các khu vực rừng mưa nhiệt đới ở Việt Nam cho đến 1000 m, thường gặp định cư trên các loài Hoa lan thuộc Họ Phong lan Orchidaceae, Hoa trang Ixora sp. từ tháng 3 đến tháng 6 hàng năm.
Giá trị:
Trong nước: Loài hiếm và rất thú vị để cho học sinh, sinh viên tìm hiểu về tập tính ngụy trang săn mồi của loài côn trùng này. Tuy nhiên chúng bị săn bắt rất nhiều để buôn bán và nuôi làm cảnh. Cần có biện pháp chế tài và quản lý loài này.
Nước ngoài: Hầu khắp các nước Đông nam á.
Tình trạng
Loài hiếm, đang bị đe doạ do rừng bị phá huỷ và thu hẹp và bị sưu tầm làm bộ mẫu của nhiều người. Số lượng rất biến động theo thời gian và phụ thuộc vào mức độ khai thác hay vùng phân bố được bảo tồn.
Biện pháp bảo vệ:
Vùng sinh sống của chúng phần lớn đang thuộc các Vườn quốc gia và các Khu bảo tồn thiên nhiên, nên loài này đang được bảo vệ. Tuy nhiên vẫn cần thiết phải có các biện pháp chế tài nhằm bảo vệ chúng trong tự nhiên và khu vực rừng nơi bọ lá cư trú. Cần thiết có các nghiên cứu đề nhân nuôi loài này để bổ sung số lượng vào nơi phân bố.
Mô tả loài: Phùng Mỹ Trung, Tô Văn Quang – WebAdmin.
- Documentation and reference sources:001
-
Vòng tròn khép kín đầy ma mị trong thế giới tự nhiên !19 Tháng 5, 2026 -
Bọ ngựa hoa lan, bậc thầy ngụy trang để sinh tồn !19 Tháng 5, 2026 -
Tại sao các loài thú ăn thực vật mà vẫn to lớn và cơ bắp ?7 Tháng 5, 2026 -
Bay trong đêm tối để kiếm ăn cùng với loài chồn bay13 Tháng 4, 2026 -
Sát thủ rừng xanh một thời, nay đã hoàn lương13 Tháng 4, 2026
Bài liên quan
Cóc mày phê
Tên tiếng Anh:Fea's horned frog
Tên Latin:Brachytarsophys feae
Chuột nhím đuôi ngắn
Tên tiếng Anh:Short-tailed gymnure
Tên Latin:Hylomys suillus
Luân thùy
Tên tiếng Anh:No english name
Tên Latin:Spirolobium cambodianum
Côn trùng Insecta
Thực vật Plantae
Nấm Fungi
Tô sơn Toricelliaceae