TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Bọ ngựa cánh xanh trung bộ

Tên tiếng Anh: Blue wings praying mantids
Tên Latin: Creobroter apicalis
Đồng danh: Creobroter apicalis Saussure, 1869
Đồng danh: Creobroter elongatus Beier, 1929
Đồng danh: Creobroter apicalis Saussure, 1869
Đồng danh: Creobroter elongatus Beier, 1929
Tên khác: Bọ ngựa hoa trung bộ
  • Độ cao so mặt nước biển 600 M
  • Mã định danh001
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

BỌ NGỰA CÁNH XANH TRUNG BỘ

Creobroter apicalis Saussure, 1869
Creobroter elongatus Beier, 1929
Họ: Bọ ngựa hoa Hymenopodidae
Bộ: Bọ ngựa Mantoptera

Đặc điểm nhận dạng:
Kích thước cơ thể 3 – 4 cm. Con cái lớn hơn con đực. Khác với loài Bọ ngựa cánh xanh bắc bộ Creobroter gemmatus cơ thể có màu xanh lá, kể cả phần chânMặt cánh trên có màu xanh với hai đốm mắt màu cam có viền đen rất rõ. Lớp cánh bên trong của chúng đa sắc màu gồm phần chót cánh trong có màu xanh nhạt, 1/3 diềm cánh ngoài và gốc cánh có màu tím đậm, phần còn lại có nâu xanh nhạt với các sọc trắng nhạt không đều nằm ngang. Mắt màu xanh lá, hình tháp. Cặp chân trước lớn và có răng cưa, ở đỉnh có móc sắc nhọn để bắt, giữ con mồi như loài bọ ngựa khác.
Sinh học, sinh thái:
Loài côn trùng biến thái không hoàn toàn sống trong các khu vực trảng cỏ cao hoặc ven suối. Thức ăn của chúng là các loài côn trùng trong khu vực sinh sống như ruồi, bướm. Loài này thường xuất hiện vào đầu mùa mưa khi tháng 9 ở VQG Núi Chúa, Ninh Thuận. Đã gặp giao phối và đẻ trứng tháng 10 hàng năm ở VQG Cát Tiên, Đồng Nai. Con cái có tập tính ăn thịt con đực sau khi giao phối.
Phân bố:
Trong nước: Ở hầu khắp các khu vực rừng mưa nhiệt đới ở miền Trung và miền Nam. Phân bố ở độ cao thấp cho đến ở độ cao 900m, thường gặp đứng săn mồi ở các bụi cỏ cao. Loài này có màu sắc xanh lá đậm hơn so với màu trắng nhạt của Bọ gựa cánh xanh bắc bộ Creobroter gemmatus.
Nước ngoài: Ấn Độ, Thái Lan, Srilanca.
Giá trị:
Loài bọ ngựa có màu sắc đẹp, hình thái rất độc đáo. Là một trong những ví dụ rất điển hình về tính đa dạng, tập tính ăn thịt con đực của con cái trong mùa giao phối trong tự nhiên.
Tình trạng
Loài hiếm, đang bị đe doạ do rừng bị phá huỷ và thu hẹp và bị sưu tầm làm bộ mẫu của nhiều người. Số lượng rất biến động theo thời gian và phụ thuộc vào mức độ khai thác hay vùng phân bố được bảo tồn.
Biện pháp bảo vệ:
Vùng sinh sống của chúng phần lớn đang thuộc các Vườn quốc gia và các Khu bảo tồn thiên nhiên, nên loài này đang được bảo vệ. Tuy nhiên vẫn cần thiết phải có các biện pháp chế tài nhằm bảo vệ chúng trong tự nhiên và khu vực rừng nơi bọ lá cư trú. Cần thiết có các nghiên cứu đề nhân nuôi loài này để bổ sung số lượng vào nơi phân bố.

Mô tả loài: Phùng Mỹ Trung, Tô Văn Quang – WebAdmin.

  • Documentation and reference sources:001

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae