TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Bọ ngựa cánh xanh bắc bộ

Tên tiếng Anh: Jeweled flower mantis
Tên Latin: Creobroter gemmatus 
Đồng danh: Creobroter gemmatus Saussure, 1869
Đồng danh: Creobroter gemmatus Saussure, 1869
Đồng danh: Creobroter gemmatus Saussure, 1869
Đồng danh: Creobroter gemmatus Saussure, 1869
Tên khác: Bọ ngựa hoa bắc bộ
  • Độ cao so mặt nước biển 1000 M
  • Mã định danh001
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

BỌ NGỰA CÁNH XANH BẮC BỘ

Creobroter gemmatus Saussure, 1869
Họ: Bọ ngựa hoa Hymenopodidae
Bộ: Bọ ngựa Mantoptera

Đặc điểm nhận dạng:
Kích thước cơ thể 4 – 5 cm. Con cái lớn hơn con đực, cơ thế màu trắng nhạt, phần lưng, cánh có màu xanh lá và mâu nhạt. Mặt cánh trên có màu nâu với hai đốm mắt màu vàng có viền đen rất rõ. Lớp cánh bên trong của chúng nhìn giống như 1 tác phẩm nghệ thuật của tạo hóa và là một trong những kiệt tác của thiên nhiên. Phần chót cánh trong có màu bạc, 1/3 diềm cánh ngoài và gốc cánh có màu tím đậm, phần còn lại có màu xanh đậm với các sọc trắng nhạt nằm ngang. Mắt màu xanh nhạt, hình tháp. Cặp chân trước lớn và có răng cưa, ở đỉnh có móc sắc nhọn để bắt, giữ con mồi như loài bọ ngựa khác trong bộ Bọ ngựa Mantoptera
Sinh học, sinh thái:
Loài côn trùng biến thái không hoàn toàn sống trong các khu vực trảng cỏ cao hoặc ven suối. Thức ăn của chúng là các loài côn trùng trong khu vực sinh sống như ruồi, bướm … Loài này thường xuất hiện vào đầu mùa mưa khi. Đã gặp giao phối và đẻ trứng tháng 4 hàng năm ở khu vực VQG Xuân Sơn, Phú Thọ, Tam Đảo, Vĩnh Phúc và con cái có tập tính ăn thịt con đực sau khi giao phối.
Phân bố:
Trong nước: Ở hầu khắp các khu vực rừng mưa nhiệt đới ở phía bắc Việt Nam cho đến Gia Lai, Kontum ở độ cao 1.000 m, thường gặp đứng săn mồi ở các bụi cỏ cao. Loài này có màu sắc nhạt hơn so với loài bọ gựa cánh xanh trung bộ Creobroter apicalis.
Nước ngoài: Trung Quốc, Myanmar, Thái Lan, Lào, Cambodia và Indonesia.
Giá trị
Loài bọ ngựa có màu sắc đẹp, hình thái rất độc đáo. Là một trong những ví dụ rất điển hình về tính đa dạng, tập tính ăn thịt con đực của con cái trong mùa giao phối trong tự nhiên.
Tình trạng
Loài hiếm, đang bị đe doạ do rừng bị phá huỷ và thu hẹp và bị sưu tầm làm bộ mẫu của nhiều người. Số lượng rất biến động theo thời gian và phụ thuộc vào mức độ khai thác hay vùng phân bố được bảo tồn.
Biện pháp bảo vệ:
Vùng sinh sống của chúng phần lớn đang thuộc các Vườn quốc gia và các Khu bảo tồn thiên nhiên, nên loài này đang được bảo vệ. Tuy nhiên vẫn cần thiết phải có các biện pháp chế tài nhằm bảo vệ chúng trong tự nhiên và khu vực rừng nơi bọ lá cư trú. Cần thiết có các nghiên cứu đề nhân nuôi loài này để bổ sung số lượng vào nơi phân bố.

Mô tả loài: Phùng Mỹ Trung, Tô Văn Quang – WebAdmin.

  • Documentation and reference sources:001

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae