TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Bruno Kneubuhler

Bọ lá cúc phương

Tên tiếng Anh: Cuc Phuong leaf insect
Tên Latin: Cryptophyllium rarum
Đồng danh: Cryptophyllium rarum (Liu, 1993)
Đồng danh: Cryptophyllium rarum (Liu, 1993)
Đồng danh: Cryptophyllium rarum (Liu, 1993)
Đồng danh: Cryptophyllium rarum (Liu, 1993)
Tên khác: bọ lá cánh mỏng
  • Độ cao so mặt nước biển 1000 M
  • Mã định danh001
  • Xác định bởiTô Văn Quang

BỌ LÁ CÚC PHƯƠNG

Cryptophyllium rarum (Liu, 1993)
Họ: Bọ lá Phyllidae
Bộ: Bọ que Phasmatoidea

Đặc điểm nhận dạng:
Trong trạng thái tiêu bản, loài này toàn thân có màu xanh nhạt, có lốm đốm vàng và nâu vàng. Mắt kéo có màu hơi đỏ đến hồng. Râu có màu vàng đến cam. Thuỳ chân không có vết nâu. Mẫu lúc còn sống màu sắc tươi hơn. Dài thân (bao gồm cả mắt đơn và đầu, trừ râu) 64.3 mm. Dài đầu 3.8 mm. Rộng đầu 3.6 mm. Dài râu 34.5 mm. Dài mảnh lưng trước 2.9 mm. Dài mảnh lưng giữa 3.7 mm. Dài cánh trước 17.4 mm. Dài cánh sau 47.0 mm. Rộng bụng 20.6 mm. Dài đùi chân trước 13.7mm. Dài đùi chân giữa 10.6 mm. Dài đùi chân sau 12.5 mm. Dài ống chân trước 8.2 mm. Dài ống chân giữa 7 mm. Dài ống chân sau 9.4 mm.
Vẻ bề ngoài khá giống loài Cryptophyllium bankoi về hình dạng thuỳ chân, cùng chiều dài cánh, hình dáng ngực và bụng. Cryptophyllium rarum có bụng hình trứng rõ hơn và thuỳ đùi chân trước có 6 – 8 răng cưa. Còn loài Cryptophyllium bankoi chỉ có 4 răng cưa. Thuỳ đùi chân trước phía ngoài có góc cạnh thẳng và có răng cưa rõ. Cánh sau dài (chạm đến đốt bụng thứ VI). Ống chân đơn và thiếu thuỳ.
Sinh học, sinh thái:
Bọ lá là loài côn trùng biến thái không hoàn toàn, trứng được đẻ rải rác từng quả và nở ra thiếu trùng có dạng như trưởng thành nhưng cánh chưa phát triển, sau nhiều lần lột xác có các đặc điểm như đã nêu về đặc điểm nhận dạng. Đôi khi bọ lá có hiện tượng bùng nổ về số lượng, chưa rõ nguyên nhân. Bọ lá chỉ sống ở vùng nhiệt đới. Có thể thấy chúng trên các cành cây ở trong rừng ẩm, ít thấy trên các cây cỏ thấp và dại nắng. Hiện nay, ở Việt Nam các nhà nghiên cứu đã nuôi chúng bằng lá một loại cây thuộc họ Đào lộn hột Anacardiaceae. Bọ lá thường bị bò sát, chim tấn công con trưởng thành và một số ong, ruồi ký sinh trứng của chúng.
Phân bố:
Trong nước: Loài đặc hữu hẹp ở Việt Nam. Vùng phân bố được ghi nhận ở các tỉnh Vĩnh Phúc (Vườn quốc gia Tam Đảo), Quảng Ninh, Ninh Bình (Vườn quốc gia Cúc Phương), Kontum (Vườn quốc gia Chư Mom Ray), Đà Nẵng (Khu dự trữ thiên nhiên Bà Nà – Núi Chúa). Kontum (Khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Linh).
Nước ngoài: Quảng Tây (Trung Quốc).
Giá trị:
Loài côn trùng to, đẹp, hiền lành với hình thái rất đặc thù. Là một trong những ví dụ rất điển hình về tính đa dạng, ngụy trang của các loài côn trùng trong thiên nhiên.
Tình trạng:
Loài này có phạm vi phân bố khá rộng ở các tỉnh miền Bắc và Tây Nguyên. Tuy nhiên, quần thể nhỏ, số lượng cá thể ghi nhận rất ít, thường dưới 2 cá thể trong một đợt khảo sát; sinh cảnh sống của loài bị thu hẹp và suy thoái do chuyển đổi đất rừng thành đất canh tác nông nghiệp và khai thác lâm sản. Kích cỡ quần thể của loài này bị suy giảm ước tính khoảng hơn 30% trong vòng 15 năm qua.
Phân hạngVU A2c.
Biện pháp bảo vệ:
Vùng sinh sống của chúng phần lớn đang thuộc các Vườn quốc gia và các Khu bảo tồn thiên nhiên, nên loài này đang được bảo vệ. Tuy nhiên vẫn cần thiết phải có các biện pháp chế tài nhằm bảo vệ chúng trong tự nhiên và khu vực rừng nơi bọ lá cư trú. Cần thiết có các nghiên cứu đề nhân nuôi loài này để bổ sung số lượng vào nơi phân bố.

Mô tả loài: Phạm Hồng Thái – Viện sinh thái tài nguyên sinh vật. Tô Văn Quang, Phùng Mỹ Trung – WebAdmin.

  • Documentation and reference sources:001

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae