TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Hoàng Vũ Trụ

Bọ hung năm sừng đen

Tên tiếng Anh: Siam rhinoceros beetle
Tên Latin: Eupatorus siamensis
Đồng danh: Alcidosoma siamensis Castelnau, 1867
Đồng danh: Alcidosoma siamensis Castelnau, 1867
Đồng danh: Eupatorus siamensis (Castelnau, 1867)
Đồng danh: Eupatorus siamensis (Castelnau, 1867)
Tên khác: Bọ hung năm sừng xiêm

BỌ HUNG NĂM SỪNG ĐEN

Eupatorus siamensis (Castelnau, 1867)
Alcidosoma siamensis Castelnau, 1867
Họ: Bọ hung Scarabaeidae
Bộ: Cánh cứng Coleoptera

Đặc điểm nhận dạng:
Lờn hơn loài Eupatorus endoi. Con đực dài 43 – 75 mm, cái dài 40 – 61 mm. Cơ thể màu đen bóng, cánh màu đen bóng. Đỉnh đầu có sừng dài cong về phía sau phủ quá 1/2 tấm lưng ngực trước. Tấm lưng ngực trước có 4 sừng hướng về phía trước, 2 sừng ở 2 góc bên tấm lưng ngực trước dài hơn 2 sừng ở phía sau, 2 sừng sau nằm gần ở đỉnh của tấm lưng ngực trước. Ống chân trước dài hơn các ống chân khác, mép ngoài của nó có 3 gai, mép trong có 1 gai ở đỉnh ống chân. Con cái có màu sắc giống con đực, nhưng đầu và ngực không có sừng.
Sinh học, sinh thái:
Loài này sống trong rừng tự nhiên ở miền Bắc và Tây Nguyên. Dạng sinh cảnh phân bố rừng ẩm nhiệt đới thường xanh trên núi cao, nơi khí hậu ôn hoà và thường được tìm thấy trong các khu rừng tre, nơi ấu trùng của chúng phát triển trong đất và ăn gỗ mục nát. Cá thể trưởng thành hoạt động vào cuối mùa mưa, từ tháng 6 đến tháng 8. Ăn mật hoa, nhựa cây và trái cây thối.
Phân bố:
Trong nước: Kontum (Vườn quốc gia Chư Mom Ray), Gia Lai (Vườn quốc gia Kon Ka Kinh, K’Bang), Đắk Lắk (Vườn quốc gia Chư Yang Sin), Đăk Nông (Vườn quốc gia Tà Đùng).
Nước ngoài: Campuchia, Lào, Myanmar, Thái Lan.
Giá trị:
Là loài bọ cánh cứng to, đẹp, có giá trị nghiên cứu khoa học. Mẫu vật sưu tầm dùng làm giáo cụ giúp cho sinh viên, học sinh hiểu tập tính, sinh thái loài. Loài này đã và đang bị thu bắt mạnh để buôn bán từ những năm 90 của thế kỷ 20 cho đến nay.
Tình trạng:
Loài này ghi nhận ở 4 tỉnh Tây Nguyên, với số lượng cá thể trưởng thành ghi nhận rất ít, thường dưới 2 cá thể trong một đợt khảo sát. Sinh cảnh sống của loài bị tác động do chuyển đổi đất rừng làm đất canh tác nông nghiệp, khai thác lâm sản và phát triển cơ sở hạ tầng. Kích cỡ quần thể của loài bị suy giảm ước tính trên 30% trong vòng 30 năm qua do thu hẹp và suy thoái sinh cảnh cũng như bị khai thác, buôn bán làm sinh vật cảnh.
Phân hạng: EN A2cd.
Biện pháp bảo vệ:
Nơi sống của loài bị thu hẹp và suy thoái do xâm lấn đất rừng và khai thác lâm sản. Quần thể suy giảm do bị bị săn bắt và buôn bán để nuôi làm cảnh. Sinh cảnh sống của loài có một phần nằm trong các Vườn quốc gia và Khu bảo tồn nên được bảo vệ. Đề xuất bảo vệ sinh cảnh trong vùng phân bố tự nhiên của loài; phục hồi quần thể trong tự nhiên; kiểm soát thu bắt và buôn bán trái pháp luật loài này.
Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam – phần động vật – trang 133.

  • Documentation and reference sources:001

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae