TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Hoàng Vũ Trụ

Kẹp kìm sừng đao

Tên tiếng Anh: Stag beetle
Tên Latin: Serrognathus titanus
Đồng danh: Lucanus titanus Boisduval, 1835
Đồng danh: Serrognathus titanus (Boisduval, 1835)
Đồng danh: Lucanus titanus Boisduval, 1835
Đồng danh: Serrognathus titanus (Boisduval, 1835)
Tên khác: Kẹp kìm sừng đao
  • Độ cao so mặt nước biển 2000 M
  • Mã định danh001
  • Xác định bởiTô Văn Quang

KẸP KÌM SỪNG ĐAO

Serrognathus titanus (Boisduval, 1835)
Lucanus titanus Boisduval, 1835
Họ: Kẹp kìm Lucanidae
Bộ: Cánh cứng Coleoptera

Đặc điểm nhận dạng:
Loài bọ cánh cứng kích thước lớn: con đực tới trên  80mm,  có màu đen tuyền. Thân hình rất giống với loài Kẹp kìm sừng cong Dorcus curvidens, chỉ khác hình thái cặp sừng. Sừng có hình dạng như lưỡi thanh long đao, mặt trong của “lưỡi đao” có hình răng cưa. Răng to nhất nằm ở vị trí trong khoảng 1/3 độ dài của sừng kể từ gốc sừng. Loài Serrognathus titanus có 25 phân loài, ở Việt Nam ghi nhận 2 phân loài là Serrognathustitanus fafner Serrognathus titanus westermanni.
Sinh học, sinh thái:
Sống trên cây ở trong các khu rừng thường xanh núi cao ở độ cao 1.800 m. Dạng sinh cảnh phân bố là rừng ẩm nhiệt đới thường xanh. Chưa có dẫn liệu về ấu trùng và thức ăn của loài này trong tự nhiên. Con trưởng thành thường sống trên các vùng rừng núi cao, khí hậu ôn hoà.
Giá trị:
Loài bọ cánh cứng có kích thước lớn có giá trị rất cao về khoa học, thẩm mỹ, thương mại. Có thể nuôi làm cảnh để phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học và làm công cụ cho học sinh, sinh viên tìm hiểu về vòng đời.
Phân bố:
Trong nước: Phân loài Serrognathus titanus fafner ghi nhận ở Lai Châu (Mường Tè), Lào Cai (Vườn quốc gia Hoàng Liên), Hà Giang (Quản Bạ), Cao Bằng (Vườn quốc gia Phia Oắc – Phia Đén), Lạng Sơn (Mẫu Sơn, Lộc Bình), Sơn La (Khu bào tồn thiên nhiên Copia), Yên Bái (Văn Chấn), Tuyên Quang (Khu bảo tồn loài, sinh cảnh Lâm Bình – Sinh Long, Chiêm Hóa), Thái Nguyên (Định Hóa), Phú Thọ (Vườn quốc gia Xuân Sơn), Thanh Hóa (Vườn quốc gia Xuân Liên), Nghệ An (Vườn quốc gia Pù Mát, Thanh Chương), Hà Tĩnh (Vườn quốc gia Vũ Quang), Quảng Trị (Hướng Hóa), Thừa Thiên Huế (A Lưới) Phân loài Serrognathus titanus westermanni phân bố ở Kontum (Vườn quốc gia Chư Mom Ray), Gia Lai (Vườn quốc gia Kon Ka Kinh), Đăk Lăk (Vườn quốc gia Chư Yang Sin, Buôn Mê Thuật), Lâm Đồng (Vườn quốc gia Bidoup – Núi Bà), Đồng Nai (Khu bảo tồn thiên nhiên văn hóa Đồng Nai, Vườn quốc gia Cát Tiên).
Nước ngoài: Ấn Độ, Lào, Myanmar, Thái Lan, Trung Quốc.
Tình trạng:
Kích cỡ quần thể của loài ước tính bị suy giảm gần 30% trong vòng 30 năm qua; sinh cảnh sống của loài bị thu hẹp và suy thoái do chuyển đổi đất rừng thành đất canh tác nông nghiệp, khai thác lâm sản, phát triển cơ sở hạ tầng và du lịch; loài này cũng bị săn bắt, buôn bán làm sinh vật cảnh ở trong và ngoài nước. Phân loài Serrognathus titanus fafner ghi nhận ở 17 tỉnh từ phía Bắc tới Thừa Thiên – Huế; phân loài Serrognathus titanus westermanni ghi nhận ở 5 tỉnh từ Tây Nguyên vào tới Đồng Nai, số lượng cá thể trưởng thành ghi nhận rất ít, thường dưới 3 cá thể trong mỗi đợt khảo sát.
Phân hạng: NT A2cd.
Biện pháp bảo vệ:
Sinh cảnh sống của loài có một phần nằm trong các Vườn quốc gia và Khu bảo tồn nên được bảo vệ. Đề xuất bảo vệ sinh cảnh trong vùng phân bố tự nhiên của loài; phục hồi quần thể trong tự nhiên; kiểm soát việc thu bắt và buôn bán bất hợp pháp loài này. Cấm bắt loài côn trùng này để buôn bán. Mặc dù đã được bảo vệ trong các Vườn quốc gia và Khu bảo tồn thiên nhiên. Nhưng cần hạn chế việc thu bắt, khai thác sinh cảnh sống của chúng.

Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam 2023 – phần động vật – trang 31.

  • Documentation and reference sources:001

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae