TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Bọ cánh cam chân đỏ

Tên tiếng Anh: Jewel beetles
Tên Latin: Sternocera aequisignathus
Đồng danh: Sternocera aequisignathus Eschscholtz, 1829
Đồng danh: Sternocera aequisignathus Eschscholtz, 1829
Đồng danh: Sternocera aequisignathus Eschscholtz, 1829
Đồng danh: Sternocera aequisignathus Eschscholtz, 1829
Tên khác: Bọ ngọc chân đỏ
  • Độ cao so mặt nước biển 800 M
  • Mã định danh001
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

BỌ CÁNH CAM CHÂN ĐỎ

Sternocera aequisignathus Eschscholtz, 1829
Họ: Cánh cam ngọc Buprestidae
Bộ: Cánh cứng Coleoptera

Đặc điểm nhận dạng:
Loài bọ cánh cứng có kích thước lớn trong họ Cánh cam ngọc Buprestidae. Chiều dài cơ thể đạt khoảng 30 mm. Lớp kitin bên ngoài ở phần đầu, ngực, lưng và bụng đều có màu xanh ánh kim ngọc lục bảo, Mắt kép, to, màu đen, râu đầu 11 đốt màu nâu đỏ. Chân màu nâu đỏ, có 4 giác bám dạng lông mịn có màu nâu đỏ, xung quanh đốt bám có lông. Lưng của đốt ngực, đầu có nhiều nốt lõm không đều rất đặc trưng.
Sinh học, sinh thái:
Sống trong các khu rừng thường xanh còn tốt. Con cái đẻ 5 – 12 trứng rời rạc ở gốc cây chủ. Trứng nở sau hai tháng. Ấu trùng có 4 giai đoạn biến thái. Giai đoạn 1 đến 3 ở dưới lòng đất trong 3 – 4 tháng. Ấu trùng trong bốn giai đoạn này ăn rễ của cây ký chủ. Giai đoạn thứ 4 có thể thấy chúng bò trên mặt đất rồi lại trở về lòng đất một lần nữa để hóa nhộng. Con trưởng thành có tuổi thọ 1 – 3 tuần. Vòng đời của chúng hoàn thành trong thời gian 2 năm.
Phân bố:
Trong nước: Việt Nam đã bắt được loài này ở hầu khắp các tỉnh phía Nam Việt Nam từ Bình Thuận đến Phú Quốc.
Nước ngoài: Hầu khắp miền Nam châu Á như Myanmar, Thái Lan, Lào.
Giá trị:
Có màu sắc đẹp được ưa thích, có giá trị nghiên cứu khoa học và thẩm mỹ. Mẫu vật sưu tầm dùng làm giáo cụ giúp cho sinh viên, học sinh hiểu tập tính, sinh thái loài.
Tình trạng:
Loài hiếm, đang bị đe doạ do rừng bị phá huỷ và thu hẹp và bị sưu tầm làm bộ mẫu của nhiều người. Số lượng rất biến động theo thời gian và phụ thuộc vào mức độ khai thác hay vùng phân bố được bảo tồn.
Biện pháp bảo vệ:
Nơi sống của loài bị thu hẹp và suy thoái do xâm lấn đất rừng và khai thác lâm sản. Quần thể suy giảm do bị bị săn bắt và buôn bán để nuôi làm cảnh. Sinh cảnh sống của loài có một phần nằm trong các Vườn quốc gia và Khu bảo tồn nên được bảo vệ. Đề xuất bảo vệ sinh cảnh trong vùng phân bố tự nhiên của loài; phục hồi quần thể trong tự nhiên; kiểm soát thu bắt và buôn bán trái pháp luật loài này

Mô tả loài: Tô Văn Quang, Phùng Mỹ Trung – WebAdmin.

  • Documentation and reference sources:001

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae