TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Internet download

Bò biển

Tên tiếng Anh: Dugong
Tên Latin: Dugong dugon
Đồng danh: Trichechus dugon Müller, 1776
Đồng danh: Halicore dugong (Illiger, 1811)
Đồng danh: Trichechus dugon Müller, 1776
Đồng danh: Halicore dugong (Illiger, 1811)
Tên khác: Cá cúi
  • Độ cao so mặt nước biển -10 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

BÒ BIỂN

Dugong dugon (Muller, 1776)
Trichechus dugon Müller, 1776
Halicore dugong (Illiger, 1811)
Họ: Cá cúi Dugongidae
Bộ: Hải ngưu Sirenia

Đặc điểm nhận dạng:
Cơ thể có dạng mập tròn, mõm nhô ra như một khối thịt thừa. Môi trên có dạng móng ngựa, mang nhiều lông cảm giác. Lỗ thở ở trên và phía trước đầu. Hai vây bơi nhỏ và ngắn; không có vây lưng; vây đuôi có dạng giống Cá heo, nhưng lõm ở giữa tạo thành rãnh hình chữ V. Mắt tròn, nhỏ, màu thẫm và có nắp đậy. Tai không vành mà chỉ là 2 lỗ nhỏ ở hai bên đầu. Da Bò biển có màu đồng hơi xám và sáng dần về phía mặt bụng, con mới sinh hoặc còn nhỏ có màu nâu thẫm. Lông ngắn và mảnh, phân bố lưa thưa trên lưng, phía bụng lông dài nhưng thưa hơn, mõm mang nhiều lông và dày hơn. Lông xúc giác rất phát triển và nhạy cảm. Bò biển có lớp mỡ dày như đối với các loài thú biển khác. Bò biển có 06 cặp răng hàm, được xếp trên mỗi mặt của hai hàm và ngay gần lối vào của miệng. Có 02 răng nanh ngắn, răng nanh chỉ mọc ở con đực trưởng thành hoặc ở con cái già (trên 40 tuổi).
Sinh học, sinh thái:
Bò biển trưởng thành sinh dục ở độ tuổi 9 – 10 tuổi, nhưng có khi đến sau 17 tuổi, hoạt động sinh dục của Bò biển xảy ra quanh năm, nhưng mùa sinh sản cao điểm từ tháng 6 – 9; con cái mang thai đến 13 tháng và chỉ sinh 01 con. Con con bú sữa mẹ và sau vài tuần có thể gặm cỏ nhưng vẫn còn tiếp tục bú sữa mẹ cho đến 18 tháng tuổi hoặc hơn. Tuổi tHọ: trung bình khoảng 70 tuổi. Thức ăn chính là cỏ biển, đôi khi ăn cả Thuỷ tức và Hải sâm. Sống ở vùng nước cạn ven bờ hoặc các hải đảo, nước ấm (18 – 32oC) và có nhiều cỏ biển. Chúng có thể sống từng nhóm nhỏ hoặc từng đôi mẹ – con, nhưng cũng có khi thành đàn đến vài trăm con và có tổ chức xã hội.
Phân bố:
Trong nước: Trước đây, loài Bò biển ghi nhận phân bố ở Vịnh Hạ Long, vùng biển Khánh Hoà, Côn Đảo, Phú Quốc. Hiện chỉ ghi nhận ở vùng biển Ninh Thuận (Núi Chúa), Côn Đảo (Bà Rịa – Vũng Tàu) và Phú Quốc (Kiên Giang)..
Nước ngoài: Vùng Ấn Độ – Thái Bình Dương, trong vùng nước cạn ven bờ nhiệt đới và cận nhiệt đới.
Giá trị:
Loài thú biển quí hiếm và có giá trị nghiên cứu khoa học. Góp phần điều hoà số lượng thực vật biển trong môi trường tự nhiên và cân bằng sinh thái.
Tình trạng:
Ở Việt Nam, loài này hiện ghi nhận phân bố ở vùng biển Côn Đảo và Phú Quốc, rất hiếm gặp. Sinh cảnh sống của loài bị thu hẹp và suy thoái do tác động của phát triển cơ sở hạ tầng, đô thị hóa, các hoạt động khai thác thủy sản. Bò biển thường bị mắc vào lưới đánh bắt hải sản của người dân, đôi khi bị săn bắt làm thực phẩm. Kích cỡ quần thể ước tính bị suy giảm > 80% trong vòng 30 năm qua. Số lượng cá thể trưởng thành ở vùng biển Côn Đảo và Phú Quốc ước tính < 50.
Phân hạng: CR A2cd; C2a(i).
Biện pháp bảo vệ:
Bò biển có tên trong Phụ lục I CITES và Nghị định 64/2019/NĐ-CP của Chính phủ. Đã có một số hoạt động bảo tồn loài Bò biển được thực hiện ở VQG Côn Đảo và VQG Phú Quốc. Tuy nhiên sinh cảnh sống bị thu hẹp và suy thoái do phát triển cơ sở hạ tầng, đô thị hóa, các hoạt động khai thác thủy sản. Bò biển đôi khi bị săn bắt làm thực phẩm. Cần thiết phải quản lý, bảo vệ và phục hồi sinh cảnh sống ở các khu vực có Bò biển phân bố, đặc biệt là vùng biển Côn Đảo và Phú Quốc. Kiểm soát chặt chẽ việc săn bắt, buôn bán Bò biển trong và ngoài nước. Tuyên truyền nâng cao nhận thức của cộng đồng về bảo tồn Bò biển.

Tài liệu dẫnSách đỏ Việt Nam 2023 – phần động vật – trang 31.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae