TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Báo lửa

Tên tiếng Anh: Asian golden cat
Tên Latin: Catopuma temminckii
Đồng danh: Catopuma temminckii (Vigors and Horsfield, 1827)
Đồng danh: Felis temminckii Vigors and Horsfield, 1827
Đồng danh: Pardofelis temminckii (Vigors & Horsfield, 1827)
Đồng danh: Catopuma temminckii tristis (Milne-Edwards, 1872)
Tên khác: Báo lửa vàng
  • Độ cao so mặt nước biển 800 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

BÁO LỬA

Catopuma temminckii (Vigors and Horsfield, 1827)
Felis temminckii Vigors and Horsfield, 1827
Pardofelis temminckii (Vigors & Horsfield, 1827)
Catopuma temminckii subsp. tristis (Milne-Edwards, 1872)
Họ: Mèo Felidae
Bộ: Thú ăn thịt Carnivora

Đặc điểm nhận dạng:
Bộ lông báo lửa không có hoa văn hoặc đốm sọc; nếu có, có thể 2 sọc mờ dọc lưng. Lông đồng mầu hoặc đỏ da bò hoặc xám gio hay nâu hung. Mặt có 2 sọc trắng từ khoé mắt lên đỉnh đầu, 2 – 3 vạch trắng ở mép môi trên. Mầu lông lưng và bụng ít tách biệt. Đặc điểm quan trọng nhất là đuôi có 2 mầu rõ rệt: mặt trên cùng mầu thân, mặt dưới sáng.
Sinh học, sinh thái:
Thức ăn gồm thú rừng Hoẵng Muntiacus muntjak, Cheo Tragulus javanicus, Khỉ Macaca mulatta, Nai Cervus  unicolor, Lợn rừng non Sus scrofa, thỏ, chuột, chim, gà, v.v… Báo lửa sống và hoạt động ở rừng núi đất, núi đá với các kiểu sinh cảnh rừng khác nhau; hoạt động kiếm ăn ban đêm, săn mồi chủ yếu trên mặt đất. Chưa có tài liệu về sinh sản.
Phân bố:
Trong nước: Trước đây phân bố rộng ở miền Bắc vào đến Tây Nguyên. Hiện nay ghi nhân ở các tỉnh Điện Biên, Sơn La (Mường La, Sốp Cộp), Lào Cai (Hoàng Liên, Văn Bàn), Hoà Bình (Thượng Tiến), Yên Bái (Mù Băng Chải), Thanh Hoá (Xuân Liên), Nghệ An (Pù Hoạt), Hà Tĩnh (Rào Àn), Quảng Bình (Phong Nha-Kẻ Bàng), Quảng Nam (Sông Thanh), Đắk Lắk (Yok Đôn, Chư Yang Sin), Đắk Nông (Quảng Trực), Bình Phước (Bù Gia Mập).
Nước ngoài: Nepal, Ấn Độ, Nam Trung Quốc, Myanmar, Thái Lan, Lào, Cambodia Malaysia, Indonesia.
Giá trị:
Loài thú quí hiếm và có giá trị nghiên cứu khoa học. Góp phần điều hoà số lượng cá thể quần thể các loài động vật con mồi trong môi trường tự nhiên và cân bằng sinh thái.
Tình trạng:
Loài này phân bố rộng nhưng cực kỳ hiếm gặp, kích cỡ quẩn thể ước tính bị suy giảm > 80% trong vòng 30 năm qua do mất sinh cảnh sống và bị săn bắt cạn kiệt (tiêu chuẩn A2cd). Kích cỡ quần thể ở Việt Nam ước tính < 250 và số lượng cá thể trưởng thành của mỗi tiểu quần thể < 50.
Phân hạng: CR A2cd+C2a(i).
Biện pháp bảo vệ:
Loài này có tên trong Phụ lục I CITES, Nghị định 64/2019/NĐ-CP và Nghị định 84/2021/ NĐ-CP của Chính phủ. Một phần sinh cảnh sống của loài nằm trong các khu bảo tồn nên được bảo vệ. Nhưng vẫn rất cần thiết phải bảo vệ sinh cảnh ở các khu vực phân bố tiềm năng; kiểm soát chặt chẽ việc săn bắt và buôn bán trái pháp luật loài này; thực hiện các giải pháp phục hồi quần thể trong tự nhiên và nhân nuôi bảo tồn chuyển chỗ.

Tài liệu tham khảo: Sách đỏ Việt Nam 2023 – phần động vật – trang 31.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae