TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Báo hoa mai

Tên tiếng Anh: Leopard
Tên Latin: Panthera pardus
Đồng danh: Panthera pardus pardus (Linnaeus, 1758)
Đồng danh: Panthera pardus delacouri Pocock, 1930
Đồng danh: Panthera pardus fusca (Meyer, 1794)
Đồng danh: Panthera paruds orientalis (Schlegel, 1857)
Tên khác: Báo hoa mai đông dương
  • Độ cao so mặt nước biển 100 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

BÁO HOA MAI

Panthera pardus (Linnaeus, 1758)
 Panthera pardus pardus (Linnaeus, 1758)
Panthera pardus delacouri Pocock, 1930
Panthera pardus fusca (Meyer, 1794)
Panthera paruds orientalis (Schlegel, 1857)
Họ: Mèo Felidae
Bộ: Thú ăn thịt Carnivora

Đặc điểm nhận dạng:
Báo hoa mai thân dài, chân cao. Nền lông mầu vàng nhạt ở phần lưng, trắng bạc ở phần bụng. Trên toàn thân từ đầu, thân, đuôi kể cả dưới bụng có nhiều đốm đen. Những đốm ở lưng có hình hoa mai (giữa đốm mầu vàng chấm đen như nhuỵ hoa), đốm ở đầu nhỏ, phần nửa gốc đuôi đốm đen lớn. Ngoài dạng báo bình thường kể trên, còn có dạng báo đen toàn thân mầu đen đốm hoa mai lặn trong nền lông nên khó nhìn thấy. Đây là dạng biến dị cá thể cùng loài (Panthera paradus), rất hiếm gặp.
Sinh học, sinh thái:
Thức ăn gồm thịt thú rừng: lợn, hươu, nai, trâu, bò non, khỉ, voọc, kể cả gia súc, và các loài gặm nhấm lớn. Vùng sống và hoạt động bao gồm nhiều dạng rừng núi, chủ yếu rừng già ít tác động. Thú kiếm ăn đêm và cả ban ngày ở nơi vắng người, thường nằm nghỉ trên các cành cây. Báo hoạt động đơn lẻ, chỉ sống đôi vào mùa sinh sản. Chưa có tư liệu về sinh sản của Báo hoa mai ở Việt Nam. Theo Kanchanasakha et al. (1998), Báo hoa mai mang thai 90 – 105 ngày, mỗi lứa đẻ thường 2 – 3 con. Sau khoảng 1 năm tuổi báo con tách khỏi bố mẹ để sống độc lập.
Phân bố:
Trong nước: Lai Châu, Phú Thọ (Xuân Sơn), Tuyên Quang (Na Hang), Thanh Hoá (Pù Hu), Nghệ An (Pù Mát, Pù Hoạt), Quảng Bình (Phong Nha – Kẻ Bàng), Thừa Thiên Huế (Bạch Mã), Bình Định, Kontum (Ngọc Linh), Đắk Lắk (Yok Đôn, Chư Yang Sin), Lâm Đồng và Đồng Nai (Cát Tiên), Bình Thuận (Ka Lon – Sông Mao).
Nước ngoài: Algeria, Angola, Kenya, Mozambique, Tanzania, Uganda, Zambia, Zimbabw, Tuynidi, Nigeria, Senegal, Somalia, Công Gô, Ai Cập, Ethiopia, Cameroon, Nam Phi, Iran, Iraq, Thổ Nhĩ Kỳ, Nga, Ấn Độ, Nepal, Afghanistan, Pakistan, Sri Lanka, Trung Quốc, Triều Tiên, Hàn Quốc, Myanmar, Thái Lan, Lào, Malaysia, Indonesia.
Giá trị:
Loài thú quí, hiếm, có giá trị nghiên cứu khoa học và góp phần điều hoà số lượng cá thể các quần thể con mồi, giúp cân bằng sinh thái tự nhiên.
Tình trạng:
Loài này ghi nhận phân bố từ miền Bắc đến miền Nam. Tuy nhiên, hiện rất hiếm gặp. Sinh cảnh sống bị thu hẹp và suy thoái do mất rừng và nguồn thức ăn suy giảm. Loài này là đối tượng bị săn bắt cạn kiệt làm thực phẩm và buôn bán; kích cỡ quẩn thể ước tính bị suy giảm > 80% trong vòng 30 năm qua. Kích cỡ quần thể ước tính < 250 cá thể, số lượng cá thể trưởng thành của mỗi tiểu quần thể < 50.
Phân hạng: CR A1d C1+2a
Biện pháp bảo vệ:
Đã được đưa vào Sách đỏ Việt Nam và Nhóm IB Nghị định 32/2006/NĐ-CP. Tuy nhiên loài này bị săn bắt làm thực phẩm và buôn bán. Sinh cảnh sống của loài bị chia cắt và suy thoái do xâm lấn đất rừng tự nhiên để mở rộng đất sản xuất nông nghiệp, khai thác lâm sản. Cần có chiến lược bảo vệ rõ ràng cho các khu vực đặc biệt là các khu bảo vệ còn báo gấm sinh sống và tổ chức nhân nuôi sinh sản bán tự nhiên để bảo tồn loài và thả lại vào thiên nhiên khi có điều kiện phù hợp.

Tài liệu tham khảo: Sách đỏ Việt Nam 2023 – phần động vật – trang 31.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae