TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung - Đặng Huy Phương

Báo gấm

Tên tiếng Anh: Clouded leopard
Tên Latin: Neofelis nebulosa
Đồng danh: Felis nebulosa Griffith, 1821
Đồng danh: Pardofelis nebulosa (Griffith, 1821)
Đồng danh: Felis nebulosa Griffith, 1821
Đồng danh: Pardofelis nebulosa (Griffith, 1821)
Tên khác: Báo mây
  • Độ cao so mặt nước biển 1000 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

BÁO GẤM

Neofelis nebulosa (Griffith, 1821)
Pardofelis nebulosa (Griffith, 1821)
Felis nebulosa Griffith, 1821
Họ: Mèo Felidae
Bộ: Thú ăn thịt Carnivora

Đặc điểm nhận dạng:
Thú cỡ trung bình trong họ Mèo Felidae, sau Hổ Panthera tigris và Báo mai hoa Panthera pardus. Bộ lông có hoa văn rất đẹp. Lông màu gio sáng hoặc vàng sáng, có nhiều hoa vân lớn ở 2 bên lưng, các hoa văn được viền vành đen khép kín và rất nét. Nhiều vệt đen chạy dài từ giữa thân theo sống lưng xuống hết đuôi; nhiều đốm đen nhỏ ở đầu, đùi. Dọc đuôi có nhiều vòng khoanh rõ nhưng bị đứt quãng hoặc mờ ở mặt dưới đuôi.
Sinh học, sinh thái:
Thức ăn gồm các loài động vật rừng cỡ nhỡ như Hoãng Muntiacus muntjak, Cheo cheo Tragulus kanchil, Khỉ Macaca sp., Voọc Trachypithecus  sp.,… Báo gấm sống và hoạt động chủ yếu ở rừng cây gỗ cao vùng rừng núi đất, hoặc các thung lũng núi đá. Báo sống độc thân, có lúc đi đôi, hoạt động ban đêm, leo trèo giỏi. Chưa có tư liệu về sinh sản của báo gấm ở Việt Nam. Nhưng theo báo cáo ở Thái Lan, Báo gấm mang thai 90 – 95 ngày, đẻ 2 – 4 con mỗi lứa, con non nặng 150 – 180 g.
Phân bố:
Trong nước: Trước đây, loài này được ghi nhận phân bố rất rộng từ Lai Châu, Lào Cai vào đến khu vực Tây Nguyên. Hiện nay chỉ ghi nhận ở một số tỉnh như Điện Biên, Sơn La (Mường La), Yên Bái (Mù Căng Chải), Thanh Hoá (Pù Luông, Xuân Liên), Nghệ An (Pù Hoạt), Quảng Bình (Phong Nha – Kẻ Bàng), Đắk Lắk (Chư Yang Sin).
Thế giới: Bangladesh, Bhutan, Nepal, Trung Quốc (kể cả Đài Loan), Myanmar, Thái Lan, Lào, Campuchia, Malaysia, Indonesia.
Giá trị:
Loài thú quí, hiếm, có giá trị nghiên cứu khoa học và góp phần điều hoà số lượng cá thể các quần thể con mồi, giúp cân bằng sinh thái tự nhiên.
Tình trạng:
Loài này trước đây ghi nhận phân bố ở nhiều địa điểm từ miền Bắc vào đến Tây Nguyên. Tuy nhiên, hiện chỉ có thông tin ghi nhận ở các tỉnh Điện Biên, Sơn La, Yên Bái, Thanh Hoá, Nghệ An, Quảng Bình và Đắk Lắk. Sinh cảnh sống bị thu hẹp và suy thoái do mất rừng và nguồn thức ăn suy giảm. Loài này là đối tượng bị săn bắt cạn kiệt làm thực phẩm và buôn bán; kích cỡ quẩn thể ước tính bị suy giảm > 80% trong vòng 30 năm qua. Kích cỡ quần thể ước tính < 250 cá thể, số lượng cá thể trưởng thành của mỗi tiểu quần thể < 50.
Phân hạng: CR A2cd+C2a(i).
Biện pháp bảo vệ:
Loài này có tên trong Phụ lục I CITES, Nghị định 64/2019/NĐ-CP và Nhóm IB Nghị định 84/2021/ NĐ-CP của Chính phủ. Một phần sinh cảnh sống của loài nằm trong các khu bảo tồn nên được bảo vệ. Tuy nhiên loài này bị săn bắt làm thực phẩm. Sinh cảnh sống của loài bị chia cắt và suy thoái do xâm lấn đất rừng tự nhiên để mở rộng đất sản xuất nông nghiệp, khai thác lâm sản lâm sản. Cần thiết phải bảo vệ sinh cảnh ở các khu vực phân bố; kiểm soát chặt chẽ việc săn bắt và buôn bán trái pháp luật loài này; thực hiện các giải pháp phục hồi quần thể trong tự nhiên và nhân nuôi bảo tồn chuyển chỗ.

Tài liệu dẫnSách đỏ Việt Nam năm 2023 – phần động vật – trang 31.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae