TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Internet download

Bạch quả

Tên tiếng Anh: Maidenhair ferns
Tên Latin: Ginkgo biloba
Đồng danh: Pterophyllus salisburiensis J.Nelson, (1866)
Đồng danh: Salisburia adiantifolia Sm., (1797)
Đồng danh: Salisburia biloba (L.) Hoffmanns., (1824)
Đồng danh: Ginkgo macrophylla K.Koch, (1873)
Tên khác: Hạnh nhân
  • Độ cao so mặt nước biển 1200 M
  • Mã định danh003
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

BẠCH QUẢ

Ginkgo biloba L., (1771)
Pterophyllus salisburiensis J.Nelson, (1866)
Salisburia adiantifolia Sm., (1797)
Salisburia biloba (L.) Hoffmanns., (1824)
Ginkgo macrophylla K.Koch, (1873)
Họ: Bạch quả Ginkgoaceae
Bộ: Bạch quả Ginkgoales

Đặc điểm nhận dạng:
Cây gỗ nhỏ, cao đến 40 m, vỏ thân màu đỏ. Cây non thường cao, mảnh, ít phân cành, khi thành thục có tán rộng. Cây đơn tính khác gốc. Cây đực có tán lá hướng thẳng lên và hình dáng không đều. Cây cái thấp, tán bành rộng hơn. Lá hình nan quạt, màu xanh thẫm, mép trên có răng cưa không đều. Rất nhiều gân lá, có một khe nứt ở giữa đỉnh lá, phân chia lá thành hai thuỳ. Các lá chuyển sang màu vàng vào mùa thu trước khi rụng hàng loạt. Hoa đơn tính, khác gốc, ẩn, mọc trên cựa ngắn, cây đực sinh ra các nón phấn nhỏ với các lá bào tử mang 2 túi bao tử nhỏ sắp xếp thành vòng xung quanh trục trung tâm. Cây ra hoa sau 20 – 35 năm tuổi. Hoa cái có vô số lá noãn xếp thành cặp trên cuống mà mỗi cái chứa một ô noãn, màu gần như xanh, nhưng sau đó chuyển sang vàng xanh rồi cam và nâu. Hoa đực có nón phấn dạng đuôi sóc màu vàng, 3 – 6 trên mỗi búp ngắn vào mùa xuân. Quá trình thụ phấn ở hạt bạch quả diễn ra nhờ giao tử đực có thể di động, giống như ở tuế, dương xỉ, rêu và tảo… Một lá noãn trần đơn khi chín sẽ tạo ra một hạt dạng quả hạch có một lớp thịt bên ngoài, vị chua, không mùi và một lớp trong mỏng, mịn, cứng. Hạt có vỏ tươi màu bạc thường tưởng nhầm là quả hoặc hạt.
Sinh học, sinh thái:
Loài thực vật hạt trần duy đã xuất hiện trong thời kỳ Đại cổ sinh Paleozoic nằm cuối kỷ Carbon hay đầu kỷ Permi (290 triệu năm). Hai trong số ba chi (genus) thuộc bộ bạch quả Ginkgoales là Ginkgoites và Baiera đã tuyệt chủng. Hiện nay, chi thứ ba là Ginkgo chỉ có một loài (species) duy nhất – Cây bạch quả Ginkgo biloba còn tồn tại và là loài điển hình được coi như thực vật hóa thạch sống còn tồn tại. Số lượng loài lớn nhất của lớp này xuất hiện bùng nổ trong giai đoạn Đại trung sinh từ kỷ Trias tới kỷ Creta. Trong kỷ Jura đã xuất hiện chi bạch quả Ginkgo. Từ kỷ Jura tới kỷ Creta, lớp này đã phát triển, phân bố rộng khắp trái đất.
Tên chi Ginkgo có nguồn gốc từ cách đọc chữ Hán trong tên của tiếng Nhật Bản là “ginkyo”. Tính từ “biloba” có gốc từ Latin, thành tố “bi” có gốc là “bis” nghĩa là cặp đôi, thành tố “loba” có nghĩa là lá. Bởi vì cây này có lá xẻ thuỳ đôi nên được đặt tính từ là “biloba”.
Phân bố:
Trong nước: Cây nhập nội từ Trung Quốc về trồng ở Đà Lạt
Nước ngoài: Trung Quốc (Bắc Trung Quốc Nam Trung Quốc), Illinois, Nhật Bản, Hàn Quốc, Romania.
Công dụng:
Cải thiện trí nhớ, hỗ trợ điều trị Alzheimer, hỗ trợ điều trị rối loạn lo âu, cải thiện khả năng nhìn và điều trị tăng nhãn áp, cải thiện tuần hoàn, sức khỏe tim mạch, giảm viêm,  stress, điều trị trầm cảm, cải thiện đau đầu.

Mô tả loài: Phùng Mỹ Trung, Phạm Văn Thế, Trịnh Ngọc Bon – WebAdmin.

  • Documentation and reference sources:003

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae