TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Hoàng Văn Chung

Nhái cây tre

Tên tiếng Anh: Bamboo Moss Frog
Tên Latin: Theloderma laeve
Đồng danh: Chirixalus laevis (Smith, 1924)
Đồng danh: Chiromantis laevis (Smith, 1924)
Đồng danh: Philautus laevis Smith, 1924
Đồng danh: Rhacophorus laevis (Smith, 1924)
Tên khác: Ếch cây ống tre
  • Độ cao so mặt nước biển 801 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

NHÁI CÂY TRE

Theloderma laeve (Smith, 1924)
Chirixalus laevis (Smith, 1924)
Chiromantis laevis (Smith, 1924)
Philautus laevis Smith, 1924
Rhacophorus laevis (Smith, 1924)
Họ: Ếch nhái Ranidae
Bộ: Không đuôi Anura

Đặc điểm nhận dạng: 
Kích thước cơ thể nhỏ (SVL 21,9 mm), mút mõm nhọn, màng nhĩ rõ, tròn; không có răng lá mía, lưỡi xẻ thùy nông ở phía sau. Chi trước mảnh, mút ngón tay mở rộng thành đĩa bám, giữa các ngón tay không có màng bơi. Chi sau mảnh, mút ngón chân mở rộng thành đĩa, giữa các ngón chân có màng bơi, công thức: I1 – 11 2II1 2 – 11 2III1 – 2IV1 – 1V. Da: Trên đầu, lưng, mặt trên đầu, hai bên sườn và mặt trên các chi nhẵn, không có nếp gấp trên màng nhĩ, mặt bụng và mặt dưới các chi sần. Màu sắc mẫu sống: Mặt lưng và phía trên các chi nàu nâu vàng với các hoa văn màu nâu sẫm, có một vạch màu kem chạy dọc từ mõm đến hậu môn ở giữa lưng, phía trên bên sườn có một dải màu đen chạy từ sau mắt đến háng, mặt bụng màu trắng đục.
Sinh học, sinh thái:
Mẫu vật được tìm thấy trên cây, cách mặt đất khoảng 1 m. Sinh cảnh xung quanh là rừng tre nứa xen cây gỗ vừa. Chỉ xuất hiện vào mùa mưa và đẻ trứng, nòng nọc sống trong các ống tre có nước. Mùa khô chúng sống trong các ống tre có nước. Thức ăn là những loài côn trùng sống trong khu vực và kiếm ăn ban đêm.
Phân bố:
Trong nước: Loài này ghi nhận phân bố ở tỉnh Nghệ An, Gia Lai, Đắk Lắk và Đồng Nai. Vườn quốc gia Bidoup Núi Bà, Vườn quốc gia Bù Gia Mập, Vườn quốc gia Bạch Mã, Vườn quốc gia Sông Thanh, Khu bảo tồn thiên nhiên Kon Cha Răng, Khu bảo tồn thiên nhiên Ea Sô và Khu bảo tồn thiên nhiên Ngọc Linh.
Nước ngoài: Lào, Campuchia.
Giá trị:
Loài này có gíá trị khoa học và thẩm mỹ. Có thể nuôi trong các trại nuôi bảo tồn để tìm hiểu tập tính, sinh thái của chúng, nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học cho học sinh, sinh viên.
Tình trạng:
Loài này hiện ghi nhận phân bố ở các tỉnh Đắk Nông, Lâm Đồng, Bình Phước và Đồng Nai. Diện tích vùng phân bố (EOO) ước tính khoảng 7.700 km2; số địa điểm ghi nhận phân bố là 4; sinh cảnh sống của loài đã và đang bị thu hẹp, suy thoái do tác động của các hoạt động khai thác lâm sản, chuyển đổi mục đích rừng sang sản xuất nông nghiệp và phát triển du lịch.
Phân hạngVU B1ab(iii).
Biện pháp bảo vệ:
Vùng phân bố của loài nằm trong các khu bảo tồn nên được bảo vệ. Tuy nhiên vẫn rất cần thiết phải bảo vệ sinh cảnh sống của loài trong tự nhiên. Nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái và đánh giá hiện trạng quần thể để đưa ra các khuyến nghị đối với công tác bảo tồn..

Mô tả loài: Phạm Thế Cường, Nguyễn Quảng Trường, Phùng Mỹ Trung – WebAdmin.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae