TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Vòi voi cánh trong hai màu

Tên tiếng Anh: Two colour wings lanternflies
Tên Latin: Pyrops lathburii
Đồng danh: Pyrops lathburii Kirby, 1818
Đồng danh: Pyrops astarte (Distant, 1914)
Đồng danh: Pyrops lathburii Kirby, 1818
Đồng danh: Pyrops astarte (Distant, 1914)
Tên khác: Vòi voi cánh hai màu
  • Độ cao so mặt nước biển 800 M
  • Mã định danh001
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

VÒI VOI CÁNH TRONG HAI MÀU

Pyrops lathburii Kirby, 1818
Pyrops astarte (Distant, 1914)
Họ: Ve sầu vòi voi Fulgoridae
Bộ: Cánh giống Homoptera

Đặc điểm nhận dạng:
Loài ve sầu vòi voi biến thái không hoàn toàn này có sải cánh dài 65 – 73 mm. Phần đầu (gồm cả phần kéo dài) có màu xanh đậm với nhiều những đốm màu trắng, không đều, chót màu cam, hơi phình to. Mắt màu đen. Mảnh lưng ngực trước, mảnh lưng ngực giữa màu xanh xám đen. Cánh trước phần từ gốc cánh đến chót cánh có màu xanh lá cây đậm với nhiều những đốm nhỏ màu cam, viền trắng không đều. Cánh sau vùng ngọn cánh màu đen, tất cả phần còn lại có màu vàng rực. Chiều dài từ đỉnh đầu đến mắt kép là 18 – 22 mm. chiều dài từ mắt kép đến cuối bụng là 23 – 27 mm. Loài này khá giống với Vòi voi đầu đen cánh xanh Pyrops coelestinus, nhưng khác biệt ở phần chóp đầu và cánh trong. Cánh trong của chúng có 2 kiểu màu vàng và trắng.
Sự biến đổi màu sắc khác nhau của đĩa cánh sau tồn tại ở loài này, với các mẫu có cánh sau màu vàng sáng và các mẫu khác có màu trắng sữa. Màu sắc của tegmina cũng thay đổi rất nhiều, từ dạng rất sẫm, gần như đen với các đốm vàng viền trắng, đến dạng rất nhạt, gần như trắng với các đốm vàng hoặc thậm chí gần như trắng với các vết màu nâu đậm hơn, đục thay cho các đốm màu nâu. đốm màu vàng. Tính đặc thù của các dạng khác nhau đã được xác nhận qua nghiên cứu về cơ quan sinh dục nam và được chứng thực bởi thực tế là các dạng khác nhau có tính đối xứng, như được minh họa bởi loạt bài từ Chiang Mai sưu tầm vào tháng 6 năm 1992 trong Nagai & Porion, 1996.
Sinh học, sinh thái:
Ấu trùng sống ở dưới đất và ăn các lớp mùn, thảm mục thực vật rừng nơi phân bố. Con trưởng thành lột xác hóa vũ và hoàn thành vòng đời vào đầu mùa mưa hàng năm.
Giá trị
Loài ve sầu to, đẹp, hiền lành với hình thái rất độc đáo. Là một trong những ví dụ rất điển hình về tính đa dạng, tính ngụy trang của các loài côn trùng trong thiên nhiên.
Phân bố:
Trong nước: Loài không phổ biến, ít găp với số lượng lớn, ở miền Bắc đã ghi nhận tại Hà Nội (Xuân Mai) và các tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Phúc (Tam Đảo), Lạng Sơn, Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái, Cao Bằng, Ninh Bình (Cúc Phương).
Nước ngoài: Ấn Độ, miền Bắc Thái Lan, miền Nam Trung Quốc , Lào.
Tình trạng
Loài hiếm, đang bị đe doạ do rừng bị phá huỷ và thu hẹp và bị sưu tầm làm bộ mẫu của nhiều người. Số lượng rất biến động theo thời gian và phụ thuộc vào mức độ khai thác hay vùng phân bố được bảo tồn.
Biện pháp bảo vệ:
Vùng sinh sống của chúng phần lớn đang thuộc các Vườn quốc gia và các Khu bảo tồn thiên nhiên, nên loài này đang được bảo vệ. Tuy nhiên vẫn cần thiết phải có các biện pháp chế tài nhằm bảo vệ chúng trong tự nhiên và khu vực rừng nơi bọ lá cư trú. Cần thiết có các nghiên cứu đề nhân nuôi loài này để bổ sung số lượng vào nơi phân bố.

Mô tả loài: Phạm Hồng Thái – Bảo tàng thiên nhiên Việt Nam, Phùng Mỹ Trung, Tô Văn Quang – WebAdmin.

  • Documentation and reference sources:001

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae