Những loài Chim cú kiếm ăn trong bóng đêm mịt mờ
Bài & Ảnh: Nguyễn Hào Quang – Viện sinh học nhiệt đới
Trăng xưa nay vốn dĩ được loài người rất mến mộ và đã làm tốn bao giấy mực của giới thi nhân, văn sĩ. Trái với con người, chỉ hơn nửa số loài vật là cần đến ánh trăng, số còn lại rất “ghét” trăng và hầu như không xuất hiện trong những đêm trăng tròn vành vạnh !
Những loài không thích chị Hằng đều là thú sống về đêm, chuyên săn mồi trong bóng tối. Nguyên nhân được các nhà khoa học giải thích như sau: phần lớn con mồi của các loài săn đêm đều là loài hoạt động ban ngày, nếu trời quá sáng con mồi sẽ phát hiện được kẻ thù mà bỏ chạy. Thế tại sao những loài sống về đêm có khả năng nhìn thấy con mồi, trong khi nạn nhân của chúng lại không thấy gì trong điều kiện thiếu sáng? Câu trả lời cho bí ẩn này liên quan đến một món quà mà tạo hoá đã ban cho hầu hết các loài động vật sống về đêm, đó là một đôi mắt cực kỳ nhạy sáng. Tuy nhiên, được cái này thì mất cái khác: vì quá nhạy sáng nên chỉ cần một ánh trăng le lói rọi vào cũng làm chúng bị chói loà như khi chúng ta nhìn lên mặt trời!
Đây là chân dung của vài loài thường lẩn tránh chị Hằng.
![]() |
![]() |
|
| Cú mèo khoang cổ Otus lettia – Ảnh: Phùng Bá Thịnh | Cú lợn lưng xám Tyto alba – Ảnh: Phùng Bá Thịnh | |
| Cú mèo thuộc họ Strigidae. Ở Việt Nam có 15 loài thuộc họ này. Kích thước khoảng 23 cm, toàn bộ cơ thể cú có màu nâu nhạt và phía dưới bụng lấm tấm đen. Đôi mắt tròn to, đen và tai có mào vểnh lên. Thức ăn chủ yếu là chuột, chim và côn trùng. Làm tổ trong các hốc cây và phân bố khắp cả nước. Số lượng cá thể còn tương đối, nhưng chủ yếu phân bố ở trong các khu rừng còn tốt và còn được bảo tồn nguyên trạng. |
Cú lợn thuộc họ Tytonidae. Ở Việt Nam có ba loài thuộc họ này. Kích thước 34 – 36 cm, mặt nhìn giống lợn nhà và tiếng kêu rất đặc trưng: “éc éc” như tiếng lợn. Trên lưng có màu nâu xám, mặt có màu trắng và dưới bụng có các chấm đen. Chúng làm tổ trong hốc cây và một ố ít trên nóc nhà. Loài này chủ yếu sống ở khu vực thành thị và phân bố đều trong cả nước. Hiện nay, số lượng cá thể loài này giảm dần. |
Cú vọ lưng nâu Ninox scutulata – Ảnh: Nguyễn Hoài Bão |
| Trước mắt và trán trắng, các lông tơ có mút đen. Đỉnh đầu, hai bên đầu hai bên và sau cổ nâu đen đều. Lưng, hông, trên đuôi và bao cánh nâu hơi nhạt hơn. Lông vai có vệt trắng rộng. Mép cánh trắng các lông cánh sơ cấp ngoàI cùng nâu có vằn mờ, ở các lông tiếp theo các vằn rõ dần và đồng thời cũng nhiều hơn. Đuôi có vằn nâu đen thẫm và nâu xám nhạt xen kẽ nhau số vằn nâu thẫm là 5. Mút đuôi trắng nhạt. Cằm trắng họng và ngực hung nâu có vệt nâu rộng. Phần còn lại của mặt bụng trắng với những vệt rộng nâu hung nhạt. Nách và dưới đuôi hung lẫn nâu. Mắt vàng cam. Mỏ đen xanh nhạt, mút mỏ nhạt hơn. Da gốc mỏ lục nhạt, chân vàng. Ở Việt Nam loài này phân bố ở hầu hết các vùng có rừng, những chỗ có nhiều cây cối rậm rạp ở miền núi cũng như miền đồng bằng; ít gặp trong các rừng sâu. |
Cú mèo khoang cổ Otus bakkamoena – Ảnh: Trần Văn Bằng |
|
Trước mắt, trên mắt và bên trán trắng hay hung nhạt có lấm tấm nâu nhạt, các sợi lông ở mặt có mút đen, phần còn lại ở mặt bụng hung hay nâu nhạt, lấm tấm đen nhạt hay hung có viền nâu thẫm. Đỉnh đầu và gáy nâu hung, phần giữa của mỗi lông nâu thẫm, hai bên có vằn rất mảnh cùng màu. Hai bên đầu và các lông mào tai dài trắng nhạt hay hung nhạt có lấm tấm và vằn nâu thẫm. |
Cú vọ Glaucidium cuculoides – Ảnh: Phùng Bá Thịnh |
Hù lào Strix leptogrammica – Ảnh: Nguyễn Hoài Bão |
|
|
Cú vọ thuộc họ Strigidae. Việt Nam có 15 loài thuộc họ này. Kích thước 20 – 23cm. Khác với cú mèo, các loài cú vọ không có tai vểnh lên và toàn bộ cơ thể có màu nâu nhạt. Đôi mắt màu vàng và dưới bụng có các vùng lông trắng, đỏ nhạt. Thức ăn chủ yếu là chuột và côn trùng nhỏ. Sống trong các khu rừng thường xanh, rừng thưa cây họ Dầu Dipterocapasceae và phân bố hầu hết khắp các vùng cả nước. |
Cú lợn thuộc họ Tytonidae. Chim trưởng thành lông mày trắng nhạt, đôi khi có màu hung. Quanh mắt có vòng đen rộng. Đĩa mặt màu trắng đến hung nâu. Họng trắng. Phần còn lại của bộ lông nhìn chung có vằn ngang màu trắng, nâu và hung nâu rất rõ. Mắt nâu, mỏ xám. Chân hoàn toàn phủ lông. Nơi sống bị tác động do chiến tranh và các nguyên nhân khác. Số lượng ít và rất khó gặp. Chỉ gặp ở VQG Bạch Mã. |
Bài viết liên quan
Côn trùng Insecta
Bướm nữ chúa rừng vàng
Tên tiếng Anh:Framed jungle queen
Tên Latin:Stichophthalma suffusa
Bọ ngọc buquet
Tên tiếng Anh:Red speckled jewel beetle
Tên Latin:Chrysochroa buqueti
Bướm hoa cúc đốm vàng lớn
Tên tiếng Anh:Hill Jezebel
Tên Latin:Delias belladonna
Thực vật Plantae
Dầu con rái
Tên tiếng Anh:Resin tree
Tên Latin:Dipterocarpus alatus
Táo ngọc linh
Tên tiếng Anh:Taiwan crabapple
Tên Latin:Malus doumeri
Trôm cánh thuyền
Tên tiếng Anh:No english name
Tên Latin:Pterocymbium tinctorium
Nấm Fungi
Nấm cà
Tên tiếng Anh:Sordid blewit
Tên Latin:Lepista sordida
Nấm ngân nhĩ
Tên tiếng Anh:Snow fungus
Tên Latin:Tremella fuciformis
Nấm kèn
Tên tiếng Anh:Golden chanterelle
Tên Latin:Cantharellus cibarius
Tô sơn Toricelliaceae
Tô sơn sáu cạnh
Tên tiếng Anh:No english name
Tên Latin:Torricellia angulata


Cú vọ lưng nâu Ninox scutulata – Ảnh: Nguyễn Hoài Bão
Cú mèo khoang cổ Otus bakkamoena – Ảnh: Trần Văn Bằng
Cú vọ Glaucidium cuculoides – Ảnh: Phùng Bá Thịnh
Hù lào Strix leptogrammica – Ảnh: Nguyễn Hoài Bão