Mười nguyên lí để tăng khả năng công bố bài báo (P.2)
Bài & Ảnh: NGUYỄN VĂN TUẤN – Chuyên gia nghiên cứu cao cấp của Ủy hội Nghiên cứu y khoa và y tế quốc gia Úc.
Trong phần trước, tôi đã trình bày 5 nguyên lí để nâng cao cơ may được công bố quốc tế. Đó là 5 nguyên lí liên quan đến cách cấu trúc bài báo một cách logic, cách viết phần dẫn nhập, phương pháp, kết quả, và bàn luận. Trong phần này, tôi sẽ bàn 5 nguyên lí liên quan đến cách viết phần bàn luận và trả lời các chuyên gia bình duyệt. Viết phần bàn luận là khó nhất, vì nó không có một cấu trúc theo công thức nào, nhưng nếu có kinh nghiệm thì sẽ biến thế yếu thành thế mạnh, và do đó, gây cảm tình cho ban biên tập.
Nguyên lí 6: Giải thích tại sao kết quả nghiên cứu là quan trọng
Phần lớn các tập san khoa học, nhất là tập san có chỉ số ảnh hưởng cao, không thích công bố những công trình làng nhàng. Họ chỉ muốn công bố những công trình mà kết quả có tầm quan trọng, có ảnh hưởng đến chuyên ngành, có tác động đến chính sách công. Đối với các tập san lớn, họ không thiếu bài, họ chỉ thiếu bài tốt.

Do đó, tác giả cần phải nắm được “tâm lí” trên để viết phần bàn luận, nêu bật được tầm quan trọng của nghiên cứu. Nếu là nghiên cứu có liên quan đến một yếu tố nguy cơ tử vong, tác giả cần phải nêu được giả thuyết nếu can thiệp vào yếu tố này thì sẽ cứu được bao nhiêu người trên thế giới. Nếu nghiên cứu tìm ra được một cơ chế nào đó liên quan đến một bệnh, tác giả có thể giải thích rằng kết quả này mở ra một định hướng mới để theo đuổi. Nên nhớ có 3 loại nghiên cứu: me too (tức lặp lại những gì người khác đã làm và chẳng có gì mới), incremental knowledge (tức có tăng một chút về tri thức), và breakthrough (đột phá). Phải đặt xem nghiên cứu của mình nằm trong loại nào. Có lẽ phần lớn nghiên cứu thuộc vào nhóm incremental knowledge, và vì thế cần phải giải thích sự gia tăng về tri thức có tác động gì đến chuyên ngành và thực hành.
Một trong những mục tiêu của phần bàn luận là dồn người bình duyệt từ vị trí trung dung sang vị trí tích cực. Phần lớn các chuyên gia bình duyệt khi đọc bài báo họ bán tín bán nghi, hay ở vị trí trung dung. Nhưng tác giả muốn tăng khả năng bài báo được chấp nhận, nên cần phải thuyết phục (bằng dữ liệu) để họ chuyển sang vị trí tích cực, tức đứng về giả thuyết của tác giả. Để làm được việc này, tác giả cần phải lí giải được cái phạm vi câu hỏi mà nghiên cứu đã trả lời được, và đã đóng góp vào việc nâng cao tri thức cho chuyên ngành ra sao. Đây là “nhiệm vụ” của đoạn văn số 4 trong phần bàn luận mà tôi đã đề cập trên.
Nguyên lí 7: Tránh “nói quá” kết quả nghiên cứu
Một lỗi hay gặp ở những người mới viết bài báo khoa học là … tham vọng. Những người này thường phát biểu những kết luận “đao to búa lớn” không tương thích với kết quả nghiên cứu. Có lẽ họ quá hào hứng với kết quả đầu tay của mình, cũng có thể họ quen thói quen viết văn theo kiểu … nhà văn, tức là sáo ngữ. Khác với báo chí phổ thông, văn phong khoa học không có chỗ cho sáo ngữ, không có chỗ cho những phát biểu mà không có chứng cứ.
Một cách viết khiêm tốn là dùng những từ bổ nghĩa như probably, possibly, , likely, hay ngay cả xác định cũng chỉ highly likely là đủ. Cách dùng từ như thế không phải là thiếu tự tin, mà cho người bình duyệt thấy tác giả là người có cân nhắc. Nên nhớ rằng trong khoa học, đặc biệt là y khoa, không có một cái gì là xác định. Do đó, nếu dùng văn phong xác định là tự chuốc lấy thất bại.
Nguyên lí 8: Giải thích những hạn chế của nghiên cứu
Khoa học thực nghiệm không bao giờ hoàn hảo. Bất cứ một nghiên cứu nào, dù được thiết kế cẩn thận đến cỡ nào, cũng đều có những hạn chế. Nhưng cũng có những thế mạnh. Do đó, tác giả cần phải ghi nhận những điểm yếu, những hạn chế của nghiên cứu. Ghi nhận một cách thành thật, chứ không phải qua loa. Ghi nhận những khiếm khuyết của nghiên cứu không phải là tín hiệu của sự yếu đuối; ngược lại, đó là cách mà tác giả nói cho người bình duyệt biết rằng tôi đã suy nghĩ cẩn thận và có cách trả lời những vấn đề tôi nêu. Ngoài việc nêu những hạn chế, tác giả cũng có thể viết về sự ảnh hưởng của những hạn chế đến kết quả nghiên cứu. Chẳng hạn như nếu số lượng đối tượng quá ít (có lẽ do bệnh hiếm) thì kết quả có thể không đáng tin cậy, và cần phải ghi nhận điều này.
Có một cách nêu những hạn chế nhưng lại là một cách … tự khoe mình! Đây là kiểu lí giải mang tính dựng nên một hình nộm, rồi đánh ngã hình nộm đó và xem như là một chiến tích! Chẳng hạn như trong một nghiên cứu về vitamin D, chúng tôi phải tìm ra một điểm yếu để nói, và cuối cùng chúng tôi nghĩ điểm yếu đó là chúng tôi chỉ phân tích được nồng độ D3 trong máu mà không đo lường được D2. Sau khi nêu sự hạn chế này, chúng tôi trình bày dữ liệu của các nghiên cứu trước cho thấy D2 thật ra chỉ chiếm 1-3% tổng số vitamin D, nên dù không đo được, thì kết quả cũng chẳng bị ảnh hưởng tiêu cực gì! Nhưng cách lí giải này cần phải cẩn thận, vì nếu không thì rất dễ bị cho là self-serving (giống như tự khen, tự sướng).
Nguyên lí 9: Viết về những kết quả ngoài dự kiến
Cũng như bất cứ một công trình nghiên cứu tốt nào cũng có hạn chế, nhiều nghiên cứu cũng cho ra những kết quả ngoài dự kiến. Đó là những kết quả không nhất quán với giả thuyết, những dữ liệu nằm ngoài phạm vi, những quan sát … lạ (nói theo cách nói của báo chí ngày nay). Khi những quan sát lạ này xảy ra, tác giả cần phải ghi nhận chúng và cung cấp một vài lời giải thích khả dĩ. Nếu không giải thích được thì phải thành thật thú nhận là … không biết. Trong khoa học, không biết một điều gì đó không phải là yếu kém, càng không phải là một tội lỗi. Trong vài trường hợp cá biệt, chính những kết quả lạ này lại dẫn đến những khám phá quan trọng. Do đó, tác giả không nên bỏ qua, mà phải ghi nhận và chú giải cẩn thận.
Một trong những tác giả viết văn khoa học hay là Gs Steven Nissen, thuộc Cleveland Clinic, Ohio. Ông chính là người làm phân tích tổng hợp về mối liên quan giữa thuốc rosiglitazone và bệnh tim mạch, mà có người xem ông như là một “hung thần” của các công ti dược. 🙂 [tôi nói đùa]. Trích dưới đây là phần bàn luận của bài báo lịch sử đó (http://www.nejm.org/doi/full/10.1056/NEJMoa072761), và những ghi chú của tôi.
|
[Vào đầu phần bàn luận, tác giả nhắc lại kết quả chính của nghiên cứu. Lúc nào cũng phải nhắc lại, vì độc giả có thể … quên.] Our data show that, as compared with placebo or with other antidiabetic regimens, treatment with rosiglitazone was associated with a significant increase in the risk of myocardial infarction and with an increase in the risk of death from cardiovascular causes that was of borderline significance. [Nhấn mạnh rằng rosiglitazone có hại – kĩ thuật tuyên truyền một cách khoa học] The similar odds ratio for comparison with placebo suggests that the increased risk associated with rosiglitazone was not a function of the protective effects of active comparator drugs. [Nhưng nghiên cứu có vài hạn chế] However, these findings are based on limited access to trial results from publicly available sources, not on patient-level source data. Furthermore, results are based on a relatively small number of events, resulting in odds ratios that could be affected by small changes in the classification of events. [Mặc dù hạn chế nhưng kết quả này đáng quan tâm, vì tầm quan trọng của nó. Chú ý tác giả nhấn mạnh rằng kết quả có tầm y tế cộng đồng vì thuốc được nhiều người sử dụng] Nonetheless, our findings are worrisome because of the high incidence of cardiovascular events in patients with diabetes.4 Because exposure of such patients to rosiglitazone is widespread, the public health impact of an increase in cardiovascular risk could be substantial if our data are borne out by further analysis and the results of larger controlled trials. |
Nguyên lí 10: Tuân thủ theo đề nghị của các chuyên gia bình duyệt
Nhiều tác giả mất bình tĩnh khi đọc bản nhận xét của các chuyên gia bình duyệt. Họ xem các chuyên gia bình duyệt là những kẻ thiếu thiện chí, chỉ gây phiền phức, và cản bước tiến của họ. Nhưng trong thực tế, đại đa số các chuyên gia bình duyệt khá công tâm, họ không phải là người gây phiền phức; họ chỉ muốn làm người gác cổng tốt mà thôi. Dĩ nhiên, cũng có những chuyên gia bình duyệt trẻ con, tỏ thái độ nhỏ mọn, và có thành kiến, nhưng số này rất ít trong cộng đồng khoa học nghiêm chỉnh. (Tôi không nói ở Việt Nam, tôi nói cộng đồng khoa học quốc tế). Do đó, nếu tác giả nghĩ xấu về các chuyên gia bình duyệt thì chính họ đánh mất cơ hội để cải tiến bài báo của họ.
Các chuyên gia bình duyệt là một số nhỏ trong nhóm độc giả. Tuy số nhỏ, nhưng họ là những người có kinh nghiệm và uy tín, đủ để đánh giá một công trình khoa học. Nếu những thông tin trong bài báo làm cho họ lẫn lộn, thì chắc chắn các độc giả khác cũng lẫn lộn. Vì thế, không nên xem thường những nhận xét của các chuyên gia bình duyệt, mà phải đọc kĩ và trả lời họ một cách nghiêm túc. Kinh nghiệm tôi cho thấy sau khi trả lời và chỉnh sửa, bài báo thường tốt hơn.
Không gì bực bội hơn cho các chuyên gia bình duyệt (những người làm việc hoàn toàn tự nguyện, chẳng nhận đồng lương hay thù lao nào) khi những đề nghị của họ bị lờ đi. Phớt lờ những đề nghị của họ là một nguy hiểm, vì họ có thể đề nghị từ chối bài báo. Nếu tác giả không làm theo đề nghị của họ thì cũng phải lí giải cụ thể và lịch sự. Khoa học là môi trường bình đẳng, nếu tác giả bất đồng ý kiến với các chuyên gia bình duyệt thì cũng có thể nói thẳng, chứ không nên e ngại.
Nói tóm lại, viết và công bố một bài báo khoa học là một việc khó khăn, đòi hỏi một kế hoạch tốt, làm việc khó khăn và trong cô đơn. Nhưng nếu các bạn làm theo 10 nguyên lí tôi vừa trình bày, các bạn sẽ có một lợi thế lớn trong sự cạnh tranh công bố quốc tế. Những nguyên lí này cũng đáp ứng phần lớn những khiếm khuyết mà các chuyên gia hay thấy trong các bản thảo. Do đó, tuân thủ theo những nguyên lí trên cũng là một cách giảm thiểu những sai lầm trong quá trình soạn thảo bài báo, và nâng cao xác suất công bố công trình nghiên cứu.
Bài viết liên quan
Côn trùng Insecta
Bướm phượng lớn
Tên tiếng Anh:Great mormon
Tên Latin:Papilio memnon
Bướm nữ chúa rừng vàng
Tên tiếng Anh:Framed jungle queen
Tên Latin:Stichophthalma suffusa
Bọ ngọc buquet
Tên tiếng Anh:Red speckled jewel beetle
Tên Latin:Chrysochroa buqueti
Thực vật Plantae
Thông đỏ bắc
Tên tiếng Anh:Chinese yew
Tên Latin:Taxus chinensis
Dẻ tùng sọc trắng
Tên tiếng Anh:Catkin-yews
Tên Latin:Amentotaxus argotaenia
Thông đỏ lá dài
Tên tiếng Anh:Rakhal
Tên Latin:Taxus wallichiana
Nấm Fungi
Nấm cà
Tên tiếng Anh:Sordid blewit
Tên Latin:Lepista sordida
Nấm ngân nhĩ
Tên tiếng Anh:Snow fungus
Tên Latin:Tremella fuciformis
Nấm kèn
Tên tiếng Anh:Golden chanterelle
Tên Latin:Cantharellus cibarius
Tô sơn Toricelliaceae
Tô sơn sáu cạnh
Tên tiếng Anh:No english name
Tên Latin:Torricellia angulata