KỶ SILUR-SILURIAN PERIOD
Kỷ Silur-Silurian period – kỷ thứ ba của Đại Cổ sinh Paleozoic, nằm giữa kỷ Ordovic và kỷ Devon. Bắt đầu khoảng 443,8 triệu năm trước và kết thúc khoảng 419,6 triệu năm trước, kéo dài khoảng 24,2 triệu năm.
Sau đại tuyệt chủng cuối kỷ Ordovic, trái đất bước vào giai đoạn phục hồi. Các lục địa vẫn có vị trí rất khác hiện nay. Các khối quan trọng Gondwana → nằm chủ yếu ở Nam bán cầu. Laurentia → nằm gần xích đạo. Baltica + Siberia + Avalonia (ba khối lục địa cổ “paleocontinent/terrane lớn” có vai trò rất quan trọng trong lịch sử địa chất Đại Cổ sinh Paleozoic, đặc biệt trong kỷ Ordovic và không hoàn toàn tương đương với các châu lục hiện nay) → tiếp tục hội tụ và tạo nên lục địa lớn Laurussia (Euramerica).
Đây là một bước quan trọng trong quá trình hình thành các lục địa lớn của Đại Cổ sinh Paleozoic. Thời kỳ này, khí hậu đầu kỷ Silur vẫn còn ảnh hưởng của sự lạnh đi và băng hà cuối kỷ Ordovic. Sau đó, Băng hà giảm → mực nước biển tăng → biển nông mở rộng → hệ sinh thái biển phục hồi và phát triển mạnh. Ở kỷ Silur nhìn chung có khí hậu ấm hơn cuối kỷ Ordovic.
Điểm nổi bật nhất là sự phục hồi của hệ sinh thái biển. Sau tuyệt chủng cuối kỷ Ordovic = tuyệt chủng → môi trường ổn định trở lại → rạn phát triển → ngành Tay cuộn Brachiopoda phục hồi → Mollusca đa dạng hóa → San hô Bryozoa phát triển → hệ sinh thái đáy biển phức tạp hơn kỷ Silur và trở thành một giai đoạn quan trọng trong quá trình tái tổ chức hệ sinh thái biển Đại Cổ sinh Paleozoic.
San hô phát triển mạnh trong kỷ Silur. Đặc biệt là hai nhánh san hô cổ đã tuyệt chủng, rất quan trọng trong các hệ sinh thái biển (Tabulata, Rugosa) cùng với Stromatoporoidea (bọt biển tạo rạn cổ), Bryozoa (rêu động vật), Brachiopoda (tay cuộn) → tạo thành những rạn sinh vật biển lớn. Những rạn này tạo môi trường sống cho rất nhiều sinh vật khác. Với sự phát triển của Eurypterida thường được gọi là (sea scorpions – bọ cạp biển) thuộc Arthropoda (chân đốt) → Chelicerata (chân kìm) và có họ hàng xa với nhện, bọ cạp và các loài Chelicerata khác. Một số loài bọ cạp biển có kích thước rất lớn, là những động vật săn mồi quan trọng trong hệ sinh thái nước nông và cá bắt đầu có bước tiến lớn kỷ Silur là thời kỳ rất quan trọng đối với lịch sử tiến hóa của cá có hàm. Cá không hàm → Cá có hàm (gnathostomata) → Placodermi (cá có hàm cổ đã tuyệt chủng, nổi bật bởi các tấm giáp xương bao phủ phần đầu và phía trước cơ thể), Acanthodii (cá cổ đã tuyệt chủng, thường được gọi là “cá gai” vì có những gai cứng phía trước các vây), Chondrichthyes (bộ xương chủ yếu bằng sụn thay vì bộ xương xương hóa hoàn toàn như Osteichthyes), Osteichthyes (cá có bộ xương chủ yếu bằng xương. Đây là một nhóm cực kỳ quan trọng vì từ dòng cá xương đã tiến hóa). Các nhánh cá có hàm bắt đầu trở nên ngày càng quan trọng.
Placodermi, cá có hàm cổ, cơ thể thường có các tấm giáp xương.
Osteichthyes, cá xương bắt đầu xuất hiện và đa dạng hóa.
Chondrichthyes, dòng tiến hóa dẫn tới cá mập và cá đuối cũng có nguồn gốc rất cổ trong Đại Cổ sinh Paleozoic.
Thực vật bắt đầu phát triển mạnh trên đất liền, là một trong những sự kiện quan trọng nhất của kỷ Silur. Nếu kỷ Ordovic đánh dấu những bước đầu của thực vật lên đất liền, ở kỷ Silur → thực vật có mạch bắt đầu xuất hiện rõ ràng hơn. Tảo xanh → Embryophyta (thực vật có phôi) → thực vật đất liền nguyên thủy → thực vật có mạch → Lycophyta (thạch tùng) + Monilophyta (dương xỉ) + Spermatophyta (thực vật có hạt)… Silur nằm ở giai đoạn rất sớm của quá trình này.
Động vật trên cạn kỷ Silur cũng chứng kiến sự xuất hiện và đa dạng hóa ban đầu của động vật chân khớp trên cạn. Các bằng chứng về lớp Nhiều chân Myriapoda nguyên thủy và lớp Hình nhện Arachnida nguyên thủy. Hóa thạch Pneumodesmus newmani được ghi nhận từ kỷ Silur và được xem là một trong những động vật trên cạn sớm có bằng chứng về hệ thống hô hấp bằng lỗ thở (spiracles). Điều này minh chứng cho các loài động vật + thực vật đang cùng nhau bắt đầu hình thành hệ sinh thái trên cạn. Brachiopoda (tay cuộn) cũng tiếp tục là thành phần quan trọng của hệ sinh thái đáy biển thuộc kỷ Silur = Brachiopoda → bám đáy biển → lọc thức ăn → tạo các quần xã đáy biển phong phú. Chúng cùng tồn tại với Bryozoa, Crinoidea, Rugosa, Tabulata, Trilobita, Mollusca.
| Nhóm | Xuất hiện | Phát triển nổi bật | Hiện trạng |
| Trilobita (Bọ ba thùy) | ~521 Ma | Kỷ Cambri-Ordovic | † Tuyệt chủng |
| Bryozoa (Động vật hình rêu) | Ordovic sớm | Ordovic-Permi | Còn sống |
| Crinoidea (Hải huệ) | Ordovic | Paleozoic, đặc biệt kỷ Carbonifer | Còn sống |
| Rugosa (San hô sừng) | Ordovic | Kỷ Silur-Devon | † Tuyệt chủng |
| Tabulata (San hô vách ngang) | Ordovic | Kỷ Silur-Devon | † Tuyệt chủng |
| Mollusca (Thân mềm) | Cambri sớm | Xuyên suốt Đại Cổ sinh Paleozoic → nay | Còn sống |

Bài viết liên quan
Côn trùng Insecta
Bướm phượng lớn
Tên tiếng Anh:Great mormon
Tên Latin:Papilio memnon
Bướm nữ chúa rừng vàng
Tên tiếng Anh:Framed jungle queen
Tên Latin:Stichophthalma suffusa
Bọ ngọc buquet
Tên tiếng Anh:Red speckled jewel beetle
Tên Latin:Chrysochroa buqueti
Thực vật Plantae
Dứa dại gỗ
Tên tiếng Anh:No english name
Tên Latin:Pandanus utilis
Pơ mu
Tên tiếng Anh:Fujian cypress
Tên Latin:Fokienia hodginsii
Thông đỏ bắc
Tên tiếng Anh:Chinese yew
Tên Latin:Taxus chinensis
Nấm Fungi
Nấm cà
Tên tiếng Anh:Sordid blewit
Tên Latin:Lepista sordida
Nấm ngân nhĩ
Tên tiếng Anh:Snow fungus
Tên Latin:Tremella fuciformis
Nấm kèn
Tên tiếng Anh:Golden chanterelle
Tên Latin:Cantharellus cibarius
Tô sơn Toricelliaceae
Tô sơn sáu cạnh
Tên tiếng Anh:No english name
Tên Latin:Torricellia angulata