KỶ PERMI-PERMIAN PERIOD
Kỷ Permi-Permian period – kỷ cuối cùng của Đại Cổ sinh Paleozoic, bùng nổ sự hình thành và phát triển mạnh của Pangaea (một siêu lục địa cổ đại, hình thành vào cuối kỷ Carbon – đầu kỷ Permi, tồn tại trong phần lớn kỷ Permi và kỷ Trias, trước khi bắt đầu tan rã trong kỷ Jura. Pangaea bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp pan = tất cả, gaia = trái đất → nghĩa gần với “toàn bộ đất liền”), sự đa dạng hóa của Sauropsida (gồm các nhánh bò sát cổ và các dòng dẫn đến chim sau này) và Synapsida (nhánh đặc biệt quan trọng vì cuối cùng dẫn tới Mammalia), các hệ sinh thái thực vật hạt trên đất liền và đặc biệt là tuyệt chủng Permi-Trias (cuộc tuyệt chủng lớn nhất được biết đến trong lịch sử trái đất). Thời gian kỷ Permi khoảng 298,9 – 251,9 triệu năm trước (Ma – niên đại triệu năm trước “million years ago”). Đây là giai đoạn chuyển tiếp từ thế giới Đại Cổ sinh Paleozoic sang thế giới Đại Trung sinh Mesozoic.
Permi được chia thành 3 thế (series)
| Thế địa chất | Thời gian xấp xỉ |
| Permi sớm | 298,9-273,0 Ma |
| Permi giữa | 273,0-259,5 Ma |
| Permi muộn | 259,5-251,9 Ma |
Ở kỷ Permi, các khối lục địa lớn hợp nhất thành Pangaea (một siêu lục địa cổ đại, hình thành vào cuối kỷ Carbon – đầu kỷ Permi, tồn tại trong phần lớn kỷ Permi và kỷ Trias, trước khi bắt đầu tan rã trong kỷ Jura. Pangaea bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp pan = tất cả, gaia = trái đất → nghĩa gần với “toàn bộ đất liền”). Pangaea làm cho phần lớn các vùng đất nằm trong một siêu lục địa, cách rất xa biển → lượng hơi ẩm từ đại dương khó đi sâu vào trung tâm lục địa → nhiều khu vực nội địa trở nên khô hạn hoặc bán khô hạn. Hệ quả, nội địa rất rộng và khô hạn. Chênh lệch khí hậu giữa ven biển và nội địa lớn. Nhiều khu vực chuyển từ rừng ẩm sang môi trường khô, bán khô hạn. Đây là một trong những yếu tố thúc đẩy sự phát triển của các nhánh thực vật và động vật thích nghi với môi trường trên cạn khô hơn.
Thực vật ở kỷ Permi so với thực vật kỷ Carboniferous, có sự thay đổi rõ rệt. Các rừng đầm lầy than đá khổng lồ của kỷ Carboniferous suy giảm, trong khi thực vật hạt ngày càng quan trọng. Đáng chú ý một chi thực vật có hạt đã tuyệt chủng (glossopteris) → đặc biệt phổ biến ở Gondwana (là một siêu lục địa cổ, gồm các khối lục địa ngày nay, hệ thực vật rất đa dạng, trong đó có Cordaitales) và Cordaites (một chi thực vật hạt cổ đại, thuộc cordaitales, đã tuyệt chủng. Phát triển mạnh trong kỷ Carboniferous và kỷ Permi. Dạng cây gỗ, một số có thể đạt kích thước lớn. Lá dài, dạng dải. Có hệ thống mạch và mô gỗ phát triển. Sinh sản bằng hạt, không phải bằng bào tử như thạch tùng “Lepidodendron” hay cỏ bút tháp “Calamites”. Có thể sống trong nhiều môi trường, từ vùng đầm lầy đến vùng đất tương đối khô) → cây hạt cổ đại, phát triển mạnh trong Đại Cổ sinh Paleozoic muộn. Lycopsida “thực vật có mạch cổ” → vẫn tồn tại nhưng các dạng cây khổng lồ như Lepidodendron “thạch tùng” đã suy giảm mạnh. Equisetales (cỏ bút tháp) → vẫn tồn tại các dạng họ hang. Conifers (thực vật hạt trần thực vật có hạt cổ và thành công nhất) → bắt đầu trở nên quan trọng hơn trong các môi trường khô. Đây là một chuyển đổi lớn từ rừng đầm lầy ẩm sang các hệ sinh thái trên cạn thích nghi tốt hơn với khí hậu khô.
Kỷ Permi là thời kỳ cực kỳ quan trọng đối với Amniota (nhánh tiến hóa của Tetrapoda, bao gồm bò sát, chim và thú, cùng các tổ tiên hóa thạch của chúng. Amniota là phôi có màng ối “amnion”, giúp sinh sản trên cạn ít phụ thuộc vào nước hơn so với lưỡng cư).
Có hai nhánh Amniota bắt đầu đa dạng hóa mạnh.
Sauropsida. Gồm các nhánh bò sát cổ và các dòng dẫn đến chim sau này.
Synapsida. Là nhánh đặc biệt quan trọng vì cuối cùng dẫn tới Mammalia.
Trong kỷ Permi giữa và muộn, Therapsida (một nhánh lớn, bao gồm nhiều động vật có xương sống trên cạn đã tuyệt chủng trong kỷ Permian – kỷ Triassic và rất quan trọng vì động vật có vú “Mammalia” tiến hóa từ một nhánh therapsid) trở nên rất đa dạng, đặc biệt quan trọng, vì chúng nằm trên nhánh tiến hóa dẫn tới động vật có vú. Các đặc điểm tiến hóa dần xuất hiện = răng phân hóa chuyên biệt hơn thay đổi khớp hàm cơ nhai phát triển xu hướng tăng chuyển hóa thay đổi tư thế vận động các đặc điểm liên quan đến lông và sinh lý thú xuất hiện từng bước ở các dòng gần Mammalia.
Sinh vật biển tở kỷ Permi vẫn rất đa dạng. Các nhánh quan trọng rất phát triển = Brachiopoda, Bryozoa, Crinoidea, Gastropoda, Bivalvia, Ammonoid, Foraminifera, Chondrichthyes, Osteichthyes. Đặc biệt, fusulinid (trùng lỗ, sinh vật đơn bào, không phải động vật đa bào) rất phát triển trong kỷ Permi và là những hóa thạch quan trọng của đá biển thuộc Đại Cổ sinh Paleozoic.
| Tên khoa học | Tên tiếng Việt | Ghi chú |
| Brachiopoda | Động vật tay cuộn | Nhánh động vật biển có vỏ hai mảnh |
| Bryozoa | Động vật hình rêu | Động vật thuộc địa, thường rất nhỏ |
| Crinoidea | Hải huệ | Lớp Da gai; gồm hải huệ và huệ biển |
| Gastropoda | Chân bụng | Ốc, sên, ốc sên biển… |
| Bivalvia | Hai mảnh vỏ | Trai, sò, hàu, điệp… |
| Ammonoidea | Cúc đá / Ammonite | Nhánh Cephalopoda đã tuyệt chủng |
| Foraminifera | Trùng lỗ | Sinh vật đơn bào có vỏ/test |
| Chondrichthyes | Cá sụn | Cá mập, cá đuối, cá chimera… |
| Osteichthyes | Cá xương | Nhánh cá có bộ xương chủ yếu bằng xương |
Ammonoid (cúc đá, đã tuyệt chủng), một trong những nhánh động vật biển nổi bật của kỷ Permi. Chúng có vỏ chia khoang và đường ráp vách ngăn (suture) rất đặc trưng. Cúc đá sẽ tiếp tục tồn tại qua tuyệt chủng kỷ Permi-kỷ Trias, sau đó nhanh chóng đa dạng hóa trong kỷ Trias và cuối cùng tạo nên những ammonite nổi tiếng của kỷ Jura-kỷ Creta.
Trên đất liền, động vật chân khớp Arachnida (hình nhện), Myriapoda (nhiều chân), Insecta (côn trùng) các loài chân khớp khác phát triển rất mạnh. Một số dòng côn trùng đã phát triển các kiểu biến thái và cấu trúc cánh ngày càng đa dạng. Ở biển vẫn có Trilobita (bọ ba thùy), Eurypterida (bò cạp biển) các nhánh giáp xác cổ phát triển. Trilobita và Eurypterida cuối cùng đều biến mất trong cuộc tuyệt chủng cuối kỷ Permi.
Tuyệt chủng Permi-Trias là sự kiện nổi tiếng nhất của kỷ Permi. Khoảng 251,9 Ma (niên đại triệu năm trước “million years ago”), xảy ra tuyệt chủng Permi-Trias. Đây được xem là cuộc tuyệt chủng lớn nhất trong lịch sử động vật đa bào. Nhiều nhánh bị ảnh hưởng nghiêm trọng như Trilobita (bọ ba thùy) → tuyệt chủng hoàn toàn Eurypterida (bò cạp biển) → tuyệt chủng nhiều Brachiopoda (tay cuộn) → suy giảm mạnh nhiều Bryozoa (động vật hình rêu)→ suy giảm Fusulinida (trùng lỗ)→ tuyệt chủng nhiều nhánh san hô Đại Cổ sinh Paleozoic → tuyệt chủng nhiều synapsid (động vật có vú) và sauropsid (bò sát) → biến mất. Nguyên nhân được liên hệ mạnh nhất với hoạt động núi lửa khổng lồ của Siberian Traps (một hệ thống phun trào magma khổng lồ trên phần phía bắc của Pangaea, tập trung ở khu vực Siberia ngày nay) = Siberian Traps → Núi lửa cực lớn → CO₂ + CH₄ + các khí khác → Biến đổi khí hậu mạnh → Nóng lên toàn cầu → Axit hóa đại dương → Thiếu oxy ở biển → Suy giảm hệ sinh thái → Tuyệt chủng Permi-Trias. Các quá trình này có thể tương tác với nhau, khiến hệ sinh thái trên cả đất liền và đại dương chịu áp lực cực lớn khiến rất nhiều loài biến mất.

Bài viết liên quan
Côn trùng Insecta
Bướm phượng lớn
Tên tiếng Anh:Great mormon
Tên Latin:Papilio memnon
Bướm nữ chúa rừng vàng
Tên tiếng Anh:Framed jungle queen
Tên Latin:Stichophthalma suffusa
Bọ ngọc buquet
Tên tiếng Anh:Red speckled jewel beetle
Tên Latin:Chrysochroa buqueti
Thực vật Plantae
Dứa dại gỗ
Tên tiếng Anh:No english name
Tên Latin:Pandanus utilis
Pơ mu
Tên tiếng Anh:Fujian cypress
Tên Latin:Fokienia hodginsii
Thông đỏ bắc
Tên tiếng Anh:Chinese yew
Tên Latin:Taxus chinensis
Nấm Fungi
Nấm cà
Tên tiếng Anh:Sordid blewit
Tên Latin:Lepista sordida
Nấm ngân nhĩ
Tên tiếng Anh:Snow fungus
Tên Latin:Tremella fuciformis
Nấm kèn
Tên tiếng Anh:Golden chanterelle
Tên Latin:Cantharellus cibarius
Tô sơn Toricelliaceae
Tô sơn sáu cạnh
Tên tiếng Anh:No english name
Tên Latin:Torricellia angulata