TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

KỶ ORDOVIC-ORDOVICIAN PERIOD

Tác giả: Phùng Mỹ Trung 18 Tháng 8, 2026

Kỷ Ordovic – Ordovician reriod – kỷ thứ hai của Đại Cổ sinh Paleozoic, sau kỷ Cambri và trước kỷ Silur. Thời gian kéo dài khoảng 41,6 triệu năm. Bắt đầu khoảng 485,4 triệu năm trước, kết thúc khoảng 443,8 triệu năm trước (Ma).
Bản đồ thế giới lúc này hoàn toàn khác hiện nay. Gondwana là khối lục địa lớn nằm phần lớn ở Nam bán cầu. Ngoài ra còn có các khối lục địa như Laurentia, Baltica, Siberia, Avalonia (bốn khối lục địa cổ (paleocontinent/terrane lớn) có vai trò rất quan trọng trong lịch sử địa chất Đại Cổ sinh Paleozoic, đặc biệt trong kỷ Ordovic và không hoàn toàn tương đương với các châu lục hiện nay). Các mảng kiến tạo tiếp tục dịch chuyển, tạo ra những thay đổi lớn về biển nông và đường bờ biển. Một đặc điểm cực kỳ quan trọng là biển nông rộng lớn bao phủ nhiều khu vực lục địa. Đây là môi trường lý tưởng cho sự phát triển mạnh của sinh vật biển.
Ordovic chứng kiến (Great Ordovician Biodiversification Event) – GOBE, = Sự kiện đa dạng hóa sinh học lớn Ordovic. Một trong những đợt gia tăng đa dạng sinh học lớn nhất trong lịch sử sự sống, đặc biệt đối với sinh vật biển. Kỷ Cambri → xuất hiện/đa dạng hóa mạnh các ngành động vật, trong khi kỷ Ordovic → các lớp (class) động vật đã có tiếp tục phân hóa thành rất nhiều họ (family), chi (genus) và loài (species). Cambri = “các ngành động vật xuất hiện”, Ordovic = “các hệ sinh thái biển trở nên cực kỳ đa dạng”. Trong GOBE, đa dạng cấp họ (family) tăng khoảng 3 lần, còn đa dạng cấp chi (genus) tăng hơn 4 lần trong một số phân tích tổng hợp.
Kỷ Ordovic rất giàu sự sống ở biển, với các ngành nổi bật Tay cuộn Brachiopoda, rất phổ biến ở các biển nông. Lớp Bọ ba thùy Trilobita, vẫn rất đa dạng, mặc dù về sau nhóm này suy giảm mạnh. Ngành Rêu động vật Bryozoa , xuất hiện và phát triển mạnh trong kỷ Ordovic. Ngành Thân mềm Mollusca, các nhóm thân mềm tiếp tục đa dạng hóa, gồm lớp Chân bụng Gastropoda, lớp Hai mảnh vỏ Bivalvia, lớp Chân đầu Cephalopoda. Đặc biệt, Chân đầu có vỏ (nautiloid) cổ bắt đầu trở thành những động vật săn mồi quan trọng trong hệ sinh thái biển. Các hệ thống rạn san hô phát triển rõ rệt, ở kỷ Ordovic, thời kỳ quan trọng trong lịch sử tiến hóa của các cộng đồng tạo rạn. Graptolita (Graptolite động vật biển thuộc ngành Bán dây sống Hemichordata, rất nổi tiếng nhờ các hóa thạch dạng cành, que hoặc răng cưa và rất quan trọng trong địa chất học và cổ sinh vật học, để xác định tuổi các tầng đá biển trong kỷ Ordovic và Silur.
Ordovic cũng rất quan trọng đối với lịch sử thực vật trên cạn. Các bằng chứng hóa thạch đã cho thấy những thực vật đất liền nguyên thủy, có dạng tương tự rêu, bắt đầu chiếm lĩnh những môi trường ẩm trên đất liền. Các bằng chứng hóa thạch bào tử (cryptospores) cho thấy quá trình thực vật hóa đất liền đã bắt đầu trong giai đoạn này. Đây chưa phải là những khu rừng = tảo nước → thực vật sống vùng ẩm → thực vật đất liền nguyên thủy → thực vật có mạch → rừng. Trong kỷ Ordovic, chúng mới nằm ở những bước đầu của quá trình này. Một số động vật chân khớp cũng bắt đầu thích nghi với môi trường trên cạn.
Ordovic kết thúc bằng một trong năm cuộc đại tuyệt chủng lớn (big five). Late Ordovician Mass Extinction – LOME (đại tuyệt chủng cuối kỷ Ordovic) Nó xảy ra chủ yếu qua hai xung tuyệt chủng, trong đó xung Hirnantian là nổi bật nhất. Các nguyên nhân chính bởi Biến đổi khí hậu → băng hà Gondwana → mực nước biển hạ thấp → mất các biển nông → suy giảm môi trường sống biển. Sau đó khí hậu ấm lên và điều kiện đại dương thay đổi tiếp tục gây áp lực lên các hệ sinh thái.


Bài viết liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae