Những loài Bọ cánh cứng có giá trị bảo tồn ở Việt Nam
Bài và Ảnh: Phùng Mỹ Trung, Tô Văn Quang – WebAdmin
Trong Sách đỏ Việt Nam, Phần Động vật, xuất bản năm 2023 đã giới thiệu 12 loài côn trùng quý hiếm, bị đe doạ cần được bảo vệ thuộc họ Bọ hung Scarabaeidae. Trong Danh mục động vật hoang dã quý hiếm, ban hành kèm theo Nghị định số 06/2019/NĐ – CP của Chính phủ: “Về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và thực thi Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp” đã công bố 2 loài côn trùng thuộc nhóm II B, họ Bọ hung Scarabaeidae nhằm hạn chế khai thác và sử dụng gồm: Cua bay việt nam Cheirotonus battareli và Cua bay đen Cheirotonus jansoni. Đó là những tài liệu chính thức liên quan tới côn trùng có giá trị bảo tồn ở Việt Nam cho đến nay. Ở các tài liệu đã dẫn vẫn còn một số sai sót về danh pháp cũng như thiếu sót về thành phần loài côn trùng có giá trị. Bài báo này công bố kết quả nghiên cứu mới nhất nhằm bổ xung dẫn liệu cho một số taxon như giống Bọ hung ba sừng Chalcosoma (Bộ cánh cứng Coleoptera, Họ bọ hung Scarabaeidae) và giống Cua bay Cheirotonus (Coleoptera, Scarabaeidae) ở Việt Nam.
Phương pháp nghiên cứu:
Nghiên cứu phân loại được tiến hành dựa trên các mẫu vật thu được trong tự nhiên và mẫu vật lưu giữ tại Phòng Hệ thống học côn trùng, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật. Riêng mẫu vật của loài Cheirotonus gestroi lưu giữ ở Viện Sinh thái miền Nam.
Kết quả nghiên cứu:
1. Giống Bọ hung ba sừng Chalcosoma Hope, 1837
Giống Bọ hung ba sừng Chalcosoma thuộc tộc Dynastini, phân họ Bọ hung sừng dài Dynastinae, họ Bọ hung Scarabaeidae, bộ Côn trùng cánh cứng Coleoptera. Tộc Dynastini gồm 13 giống trên thế giới, 9 giống phân bố ở vùng Đông phương, trong đó có các giống rất quen thuộc và có ý nghĩa bảo tồn ở Việt Nam như Bọ hung năm sừng Eupatorus, Bọ hung sừng chữ Y Trypoxylus dichotomus, Bọ cánh cam Jumnos.
Bọ hung ba sừng Chalcosoma sp. là những loài Côn trùng cánh cứng có kích thước lớn nhất ở Đông nam á. Ở Việt Nam có bắt gặp 2 loài: Bọ hung ba sừng không mấu Chalcosoma atlas, Bọ hung ba sừng có mấu Chalcosoma chiron. Cả 2 loài này đều được đưa vào Sách đỏ Việt Nam. Bọ hung ba sừng con đực màu đen bóng, ánh xanh với 3 chiếc sừng lớn đặc trưng, trong đó 2 sừng trên phát triển từ lưng ngực (sừng ngực) còn sừng dưới biến đổi từ phần đầu (sừng đầu); con cái không có sừng, màu ánh xanh rêu, lưng ngực và cánh không nhẵn bóng mà có nhiều nốt sần nhỏ.
Các loài Chalcosoma atlas và Chalcosoma causasus ở con đực đều tồn tại song hành 2 dạng: con đực lớn và con đực nhỏ. Dạng con đực lớn có kích thước lớn hơn, sừng ngực và sừng đầu dài, sừng đầu không phân nhánh ở ngọn; ngược lại, dạng con đực nhỏ có kích thước nhỏ hơn hẳn, sừng ngực và sừng đầu ngắn, sừng đầu phân nhánh ở ngọn.
Cả 2 loài phân bố ở Việt Nam là Bọ hung ba sừng không mấu Chalcosoma atlas, Bọ hung ba sừng có mấu Chalcosoma chiron được phân biệt theo khoá định loại sau:
Khoá định loại các loài thuộc giống Chalcosoma
Con đực: Sừng đầu có một gai sừng mọc dựng đứng ở quãng giữa, mặt lưng của sừng (ở dạng con đực lớn); trên pronotum, ở phía dưới của sừng ngực có vạt nốt sần; đốt đùi chân trước phủ kín các vết sần thô
Chalcosoma chiron – con đực: Sừng đầu không có gai sừng như vậy; trên pronotu m, ở phía dưới của sừng ngực không có vạt nốt sần; đốt đùi chân trước chỉ có vệt các vết sần nhỏ chạy dọc giữa đốt. Chalcosoma atlas.
Bọ hung ba sừng có mấu Chalcosoma chiron (Olivier, 1789)
Tên gốc: Scarabaeus causasus Fabricius, 1801 (nơi thu mẫu chuẩn: Java)
Scarabaeus belangeri Guérin – Méneville, 1834
Geotrupes caucasus Fabricius, 1801
Phân bố: Indonesia; Malaysia; Malacca; Thái Lan và Việt Nam (xem phần tra cứu loài).
Mẫu vật nghiên cứu:
Con đực dạng lớn:
2 mẫu Quảng Nam (Thị trấn Khâm Đức, Phước Sơn), 350 m, 27,31/7/2004.
1 mẫu Lâm Đồng (Đambri, Bảo Lộc, Vườn quốc gia Bidoup – Núi Bà), 700 m, 2/5/2003; kích thước: 108 – 117 mm. Con đực dạng nhỏ.
1 mẫu Quảng Nam (Thị trấn Khâm Đức, Phước Sơn), 350 m, 30/7/2004; kích thước: 79 mm.
Con cái:
3 mẫu Quảng Nam ((Thị trấn Khâm Đức, Phước Sơn), 350 m, (ngày 27,29,31/7/2004)
1 mẫu Quảng Nam (KBTTN Sông Thanh, Nam Giang) 400 m, (ngày 29/4/2005) kích thước 53 – 62 mm.
Nhận xét: Loài này có kích thước lớn nhất trong Giống (Genus) Chalcosoma ở Việt Nam, trên các mẫu thu được thì kích thước tối đa đạt được của chúng cũng lớn hơn loài Chalcosoma atlas. Theo điều tra của chúng tôi, loài này hiếm gặp hơn Chalcosoma atlas. Loài Chalcosoma chiron đã từng được Paulian (1945) ghi nhận ở Quảng Trị; sau đó không có công bố nào khác ở Việt Nam. Khả năng phân bố của Chalcosoma chiron ở Việt Nam chỉ ở Trung bộ và Tây nguyên. Cả hai loài Bọ hung ba sừng Chalcosoma sp. có kích thước cơ thể rất lớn đều đòi hỏi nơi sống là rừng còn tốt và nhiều cây gỗ lớn, do vậy mối đe doạ suy giảm quần thể đối với chúng là nghiêm trọng.
Phân hạng hiện nay: VU A2cd.
Đề xuất phân hạng: EN
Con đực Bọ hung ba sừng có mấu Chalcosoma chiron – Ảnh: Hoàng Vũ Trụ
Bọ hung ba sừng không mấu Chalcosoma atlas (Linnaeus, 1758)
Scarabaeus atlas Linnaeus, 1758 (nơi thu mẫu chuẩn: INDES)
Phân bố: Ấn Độ; Nepal; Malaysia; Indonesia; Phillipin; Thái Lan; Celebes và Việt Nam (xem phần tra cứu loài).
Mẫu vật nghiên cứu:
Con đực dạng lớn:
2 mẫu Thừa Thiên Huế (A Roàng, A Lưới), 700 m, (ngày 23,24/7/2004).
1 mẫu Quảng Nam ((Thị trấn Khâm Đức, Phước Sơn), 350 m, (ngày 31/7/2004) kích thước: 85 – 89 mm. Con đực dạng nhỏ:
2 mẫu Thừa Thiên Huế (A Roàng, A Lưới), 700 m, 20,22/7/2004.
5 mẫu Quảng Nam ((Thị trấn Khâm Đức, Phước Sơn), 350 m, (ngày 28/7/2004) và (ngày 1,2/5/2005).
1 mẫu Quảng Nam (Vườn quốc gia Sông Thanh, Nam Giang), 400 m, (ngày 29/4/2005).
1 mẫu Quảng Nam (Phước Mỹ, Phước Sơn), 750 m, (ngày 2/5/2005).
1 mẫu Gia Lai (KBTTN Kon Cha Răng, K Bang), 850 m, (ngày 30/7/2004) kích thước: 49,5 – 71 mm. Con cái:
8 mẫu Quảng Nam ((Thị trấn Khâm Đức, Phước Sơn), 350 m, (ngày 28 – 30/7/2004) và (ngày 1,2/5/2005).
2 mẫu Quảng Nam (Phước Mỹ, Phước Sơn) 750 m, (ngày 2/5/2005).
1 mẫu Quảng Nam (Vườn quốc gia Sông Thanh, Nam Giang) 400 m, (ngày 29/4/2005).
3 mẫu Thừa Thiên Huế (A Roàng, A Lưới), 700 m, (ngày 20,22/7/2004).
1 mẫu Kontum (Đăk Mun, Đăk Glei), 1.100 m, (ngày 29/7/2004) kích thước 46,5 – 58 mm.
Nhận xét: Loài Chalcosoma atlas đã được Paulian (1945) ghi nhận ở Trung bộ và Nam bộ. Hiện nay loài này có thể bắt gặp ở Trung bộ, Tây nguyên và Nam bộ (Vườn quốc gia Cát Tiên).
Phân hạng hiện nay: VU A2cd.
Đề xuất phân hạng: EN
Con đực Bọ hung ba sừng có mấu Chalcosoma chiron – Ảnh: Hoàng Vũ Trụ
2. Giống Cua bay Cheirotonus Hope, 1840
Giống Cua bay Cheirotonus thuộc phân họ Bọ hung chân dài Euchirinae, họ Bọ hung Scarabaeidae, bộ Côn trùng cánh cứng Coleoptera. Phân họ Bọ hung chân dài đặc trưng bởi đôi chân trước phát triển rất dài và cong quặp vào trong, các vuốt của bàn chân có một gai móc phía trong. Phân họ này có 3 giống và phân bố tập trung ở Châu Á và hầu hết các loài có kích thước lớn.
Giống Cua bay Cheirotonusgồm có 9 loài phân bố từ ấn Độ, Nepal, Trung Quốc, Nhật Bản trở xuống tới Đông nam á. Theo các tài liệu khác nhau, ở Việt Nam có 4 loài gồm: Cua bay hoa việt nam Cheirotonus battareli, Cua bay đen Cheirotonus jansoni, Cua bay cát tiên Cheirotonus parryivà Cua bay kontum Cheirotonus gestroi.
Trong bộ mẫu của chúng tôi đã xác định được 4 loài có mặt tại Việt Nam sau khi so sánh gữa mẫu thu được và mẫu vật thuộc Viện sinh thái học miền nam. Riêng loài Cheirotonus gestroi chúng tôi đã thu được mẫu và sử dụng mẫu vật của Viện sinh thái học miền nam, mới thu được ở Kontum (Măng Cành, Kon Plông ngày 3,6/4/2005). Mặt khác, xuất xứ ghi nhận sự có mặt của loài này ở Việt Nam là điều cần lưu ý. Năm 1913, Pouillaude công bố một loài mới cho khoa học từ mẫu vật thu được ở Kontum và đặt tên là Cheirotonus corompti; sau này Young (1989) khi tu chỉnh lại giống Cheirotonus cho rằng loài Cheirotonus corompti là synonym của loài Cheirotonus gestroi. Theo đó, các công trình tiếp theo đều ghi nhận loài Cheirotonus gestroi phân bố ở Việt Nam (Kontum), mặc dù chưa có một mẫu vật nào thu được thêm, trừ Marquet (1992) vẫn giữ tên Cheirotonus corompti cho loài thu được ở Kontum. Thông qua vật mẫu thu được lần này, chúng tôi khẳng định loài Cheirotonus gestroi phân bố ở Kontum.
Trong danh mục động vật hoang dã quý hiếm, ban hành kèm theo Nghị định số 48/2002/NĐ – CP đề cập tới một loài cua bay là Cheirotonus macleayi; đây là danh pháp đã rất cũ, là loài chuẩn của giống Cheirotonus; nay loài Cheirotonus macleayi được xác định là chỉ phân bố ở Ấn Độ, Bhutan và Nepal.
Trong bài báo này, chúng tôi xây dựng khoá phân biệt 4 loài Cua bay phân bố ở Việt Nam như sau:
Khoá định loại các loài thuộc giống Cheirotonus
1(4) Gai ngọn của đốt ống chân trước con đực dạng sừng, đầu cắt cụt; giữa đốt đùi chân trước có gai nhọn hoặc gai tù. Đốt bụng cuối của con cái chỉ có lông tập trung ở phần mút đuôi. Cánh đồng màu xanh đen hoặc có các sọc chấm màu vàng.
2(3) Cánh màu xanh ánh đen, không có các sọc đốm vệt; mép cánh có viền vàng rõ ở cả con đực và con cái. Gai giữa đốt đùi chân trước con đực tù đầu.Cheirotonus jansoni
3(2) Cánh có các sọc đốm màu vàng da cam tới rỉ sắt; mép cánh có viền vàng không rõ, với nhiều đốm vệt xanh đen ở con đực và con cái. Gai giữa đốt đùi chân trước con đực nhọn đầu. Cheirotonus parryi
4(1) Gai ngọn của đốt ống chân trước con đực dạng lưỡi mác, đầu nhọn; giữa đốt đùi chân trước nổi lên u lồi, trên đó mang răng cưa. Đốt bụng cuối của con cái phủ kín lông, trừ mút đuôi. Cánh có các sọc đốmmàu vàng da cam tới rỉ sắt.
5(6) Gai lưỡi mác ở ngọn đốt ống chân trước con đực nhỏ hơn; hàng gai ở mép ngoài đốt ống chân trước to và nhọn hơn. Răng cưa trên u lồi giữa đốt đùi chân trước không tạo đế. Các vết sần trên pronotum nhỏ hơn. Cheirotonus battareli
6(5) Gai lưỡi mác ở ngọn đốt ống chân trước con đực lớn hơn; hàng gai ở mép ngoài đốt ống chân trước nhỏ hơn. Răng cưa trên u lồi giữa đốt đùi chân trước nằm trên đế. Các vết sần trên pronotum lớn và sâu hơn.Cheirotonus gestroi.
Chân trước con đực và đốt bụng cuối con cái, của các loài Cua bay thuộc giống Cheirotonus
a,b: Cheirotonus jansoni – c,d: Cheirotonus parryi – e,f: Cheirotonus battareli – g,h: Cheirotonus gestroi – Ảnh vẽ: Phùng Mỹ Trung
Cheirotonus battareli Pouillaude, 1913
Cheirotonus macleayi battareli Pouillaude, 1913 (nơi thu vật mẫu chuẩn: Tonkin, Bảo Lạc)
Tên Việt Nam: Cua bay hoa việt nam.
Phân bố: Loài đặc hữu Việt Nam
Mẫu vật nghiên cứu:
Con đực:
1 mẫu Lai Châu (Thị trấn Sapa), ở độ cao 1.500 m, (ngày 4/10/2004)
2 mẫu Vĩnh Phúc (Vườn quốc gia Tam Đảo), ở độ cao 1.300 m, (ngày 18,20/5/2002) kích thước 55,0 – 59,5 mm;
Con cái:
2 mẫu Vĩnh Phúc (VQG Tam Đảo), ở độ cao 1300 m, 18,20/5/2002; kích thước 50,0 – 51,5 mm.
Nhận xét: Loài này phân bố ở vài điểm rừng núi phía Bắc Việt Nam và được mô tả là loài mới cho khoa học năm 1913 từ mẫu vật thu được ở Cao Bằng (Bảo Lạc). Về hình thái Cheirotonus battareli rất giống với Cheirotonus gestroi. Trước đây, Paulian (1945) đã định tên một số mẫu vật thu từ Xiêng Khoảng, Lào là Cheirotonus battareli; nhng sau này các tác giả khác xác định lại các mẫu này là Cheirotonus gestroi. Như vậy, loài Cheirotonus battareli là loài đặc hữu chỉ gặp ở rừng núi phía Bắc Việt Nam, vì vậy chúng tôi gọi là Cua bay hoa việt nam để phân biệt với Cua bay hoa Cheirotonus parryi, và Cua bay hoa Cheirotonus gestroi. Cũng như loài Cua bay đen Cheirotonus jansoni. Cua bay việt nam Cheirotonus battareli chỉ sống được ở các rừng giàu, nơi có nhiều cây gỗ lớn và ở độ cao trên 800 m, nên mối đe doạ đối với chúng khi rừng bị tác động và nguy cơ săn bắt chúng là rất nghiêm trọng.
Phân hạng hiện nay: EN A2cd.
Đề xuất phân hạng: EN
Con cái Cua bay việt nam Cheirotonus battareli – Ảnh: Phùng Mỹ Trung
Cheirotonus jansoni (Jordan, 1898)
Tên gốc: Euchirus jansoni Jordan, 1898 (nơi thu mẫu chuẩn: Trung Quốc)
Cheirotonus szetschuauns Medvedev, 1960
Propomacrus nankinensis Yu, 1936
Tên Việt Nam: Cua bay đen.
Phân bố: Myanmar, Lào, Trung Quốc và Việt Nam.
Mẫu vật nghiên cứu:
Con đực:
1 mẫu Lai Châu (Thị trấn Sapa), ở độ cao 1.500 m, (ngày 4/20/2004).
1 mẫu Vĩnh Phúc (Vườn quốc gia Tam Đảo), ở độ cao 1300 m, (ngày 6/7/2003).
1 mẫu Vĩnh Phúc (Vườn quốc gia Tam Đảo), ở độ cao 1.000 m, (ngày 01/09/1998) kích thước 62,5 – 67,5 mm.
Con cái:
1 mẫu Lai Châu (Thị trấn Sapa), ở độ cao 1.500 m, 4/10/2004; kích thước 57,5 mm.
Nhận xét: Loài này phân bố ở một số vùng rừng núi phía Bắc Việt Nam; theo Bezdek (1996) thì Tam Đảo là giới hạn cực Nam của phân bố loài này trên đất liền (trừ Đảo Hải Nam, Trung Quốc).
Phân hạng hiện nay: VU A2cd.
Đề xuất phân hạng: EN
Con cái và con đực Cua bay đen Cheirotonus jansoni – Ảnh: Tô Văn Quang
Cheirotonus gestroi Pouillaude, 1913
Cheirotonus corompti Pouillaude, 1913 (Nơi thu mẫu chuẩn: Kontum, Việt Nam; 14,23°N; 108°E)
Cheirotonus henrici Pouillaude, 1913 (Nơi thu mẫu chuẩn: Tse Kou)
Cheirotonus chiangdaoensis Minet, 1987 (Nơi thu mẫu chuẩn: Chiang Dao, Thái Lan)
Tên Việt Nam: Cua bay hoa kontum
Phân bố: Ấn Độ; Myanmar; Thái Lan; Lào và Việt Nam.
Mẫu vật nghiên cứu:
1 mẫu đực, 1 mẫu cái Kontum (Măng Cành, Kon Plông, Vườn quốc gia Kon ka kinh), ở độ cao 1.200 m, 3,6/4/2005; 140 38’ 95,6’’ N; 108017’82,4’’ E.
Nhận xét: Đây là lần thứ 2 loài này được ghi nhận dựa trên mẫu vật thu được ở Việt Nam (lần thứ nhất là công bố loài mới dưới danh pháp Cheirotonus corompti). Cả hai lần thu mẫu đều ở Kontum; chưa phát hiện được từ địa điểm nào khác ở Việt Nam. Chúng tôi đặt tên Cua bay hoa kontum để phân biệt với 2 loài cua bay hoa khác ở Việt Nam.
Phân hạng hiện nay: VU A2cd.
Đề xuất phân hạng: EN
Con cái Cua bay hoa kontum Cheirotonus gestroi – Ảnh: Phùng Mỹ Trung
Cheirotonus parryi Gray, 1840
Tên Việt Nam: Cua bay hoa cát tiên
Phân bố: Ấn Độ; Nepal; Myanmar; Thái Lan; Lào và Việt Nam.
Mẫu vật nghiên cứu:
1 mẫu đực Đồng Nai (Vườn quốc gia Cát Tiên), ở độ cao <400 m, (ngày 8/8/2023) kích thước 55,0 mm.
1 mẫu cái Đồng Nai (Vườn quốc gia Cát Tiên), ở độ cao <300 m, (ngày 5/7/2002) kích thước 65,0 mm.
Nhận xét: Loài này lần đầu tiên được ghi nhận ở Việt Nam bởi Bezdek (1996) trên cơ sở 8 mẫu thu được ở Vườn quốc gia Cát Tiên (Đồng Nai); theo ông, khác với các loài Cua bay khác ở Việt Nam, loài Cheirotonus parryi phân bố ở vùng đất thấp. Chúng tôi lưu giữ được 1 mẫu cũng thu từ Vườn quốc gia Cát Tiên; qua trao đổi thông tin với Dr. Bezdek, chúng tôi khẳng định đó là mẫu vật của loài Cheirotonus parryi. Như vậy, cho tới nay ở Việt Nam loài này mới chỉ bắt gặp tại Vườn quốc gia Cát Tiên. Chúng tôi đặt tên Cua bay hoa cát tiên để phân biệt với 2 loài cua bay hoa khác ở Việt Nam.
Phân hạng hiện nay: NT A2cd.
Đề xuất phân hạng: EN
Con đực Cua bay hoa cát tiên Cheirotonus gestroi – Ảnh: Phùng Mỹ Trung
Bài viết liên quan
Côn trùng Insecta
Bướm nữ chúa rừng vàng
Tên tiếng Anh:Framed jungle queen
Tên Latin:Stichophthalma suffusa
Bọ ngọc buquet
Tên tiếng Anh:Red speckled jewel beetle
Tên Latin:Chrysochroa buqueti
Bướm hoa cúc đốm vàng lớn
Tên tiếng Anh:Hill Jezebel
Tên Latin:Delias belladonna
Thực vật Plantae
Dầu con rái
Tên tiếng Anh:Resin tree
Tên Latin:Dipterocarpus alatus
Táo ngọc linh
Tên tiếng Anh:Taiwan crabapple
Tên Latin:Malus doumeri
Trôm cánh thuyền
Tên tiếng Anh:No english name
Tên Latin:Pterocymbium tinctorium
Nấm Fungi
Nấm cà
Tên tiếng Anh:Sordid blewit
Tên Latin:Lepista sordida
Nấm ngân nhĩ
Tên tiếng Anh:Snow fungus
Tên Latin:Tremella fuciformis
Nấm kèn
Tên tiếng Anh:Golden chanterelle
Tên Latin:Cantharellus cibarius
Tô sơn Toricelliaceae
Tô sơn sáu cạnh
Tên tiếng Anh:No english name
Tên Latin:Torricellia angulata