|
TỔNG QUAN VỀ SÁCH ĐỎ
Mô tả:
Sách đỏ (Red Data Book) được coi là tài liệu
có tính chất quốc gia và mang ý nghiã quốc tế, công bố các loài
động vật, thực vật thuộc loại quí hiếm ở mỗi nước và trên toàn thế
giới đang bị đe dọa giảm sút số lượng hoặc đã có nguy cơ bị tuyệt
chủng cần được bảo vệ, phục hồi và phát triển. Đây là cơ sở khoa
học, tạo cơ sở pháp lý cho việc đề xuất, quyết đinh các biện pháp
bảo vệ, phục hồi đồi với từng đối tượng thuộc loại này, đồng thời
cũng là căn cứ đề xử lý các hành vi phá hoại thiên nhiên, gây tác
hại cho sự tồn tại, phát triển của các loài sinh vật cần được bảo
vệ trong hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên sinh vật ở mỗi
nước...
Việc công bố Sách đỏ, vì vậy, có tác dụng hướng dẫn, thúc đẩy
công tác bảo vệ tài nguyên sinh vật thiên nhiên ở mỗi quốc gia.
Đây cũng là tài liệu khoa học dược sử dụng vào việc soạn thảo và
ban hành các qui định, luật pháp của Nhà nước về bảo vệ tài nguyên
sinh vật thiên nhiên, tính đa dạng sinh học và môi trường sinh thái.
I. CÁC TIÊU CHUẨN ĐÁNH GIÁ TÌNH TRẠNG
CÁC LOẠI ĐƯA VÀO SÁCH ĐỎ VIỆT NAM (Các tiêu chuẩn do tổ chức quốc
tế về bảo tồn thiên nhiên và tài nguyên thiên nhiên IUCN đề xuất)
Các cấp đánh giá chính:
ENDANGERED (E) Đang nguy cấp (đang
bị đe doạ tuyệt chủng) Là những taxon đang bị đe doạ tuyệt chủng
và không chắc còn có thể tồn tại nếu các nhân tố đe doạ cứ tiếp
diễn. Gồm những taxon có số lượng giảm đến mức báo động ở trong
điều kiện sống bị suy thoái mạnh mẽ đến mức có thể bị tuyệt chủng.
VULNERABLE (V) Sẽ nguy cấp (có
thể bị đe doạ tuyệt chủng). Là những taxon xắp bị đe doạ tuyệt chủng
(trong tương lai gần) nếu các nhân tố đe doạ cứ tiếp diễn. Gồm những
taxon mà phần lớn hoặc tất cả các quần thể cuả nó đã bị giảm vì
khai thác quá mức, vì nơi sống bị phá hoại mạnh mẽ hoặc do các biến
động khác cuả môi trường sống. Cũng gồm những taxon tuy số luượng
còn khá nhưng vì chúng có giá trị kinh tế lớn nên việc tìm bắt,
khai thác được tiến hành thường xuyên ờ mọi nơi, dễ đưa tới bị đe
dọa.
RARE (R) Hiếm (có thể có nguy cấp)
Gồm những taxon có phân bổ hẹp (nhất là những chi đơn loài) có số
lượng ít, tuy hiện tại chưa phải là đối tượng đang hoặc sẽ bị đe
doạ, nhưng sự tồn tại lâu dài của chúng ta mỏng manh.
Các cấp đánh giá khác:
Ngoài ba cấp chính trên đây, khi soạn thảo - Sách
đỏ Việt Nam cón sử dụng một trong các cấp sau:
THREATENED (T) - Bị đe doạ. Là những
taxon thuộc một trong những cấp trên, nhưng chưa đủ tư liệu để xếp
chúng vào cấp cụ thể nào.
INSUFFCIENTLY KNOWN (K) - Biết không
chính xác. Là những taxon nghi ngờ và không biết chắc chắn chúng
thuộc loại nào trong các cấp trên vì thiếu thông tin. các loại nêu
trong cấp này để hy vọng chờ các tác giả xác định mức cụ thế của
chúng.
II. CÁC TIÊU CHUẨN ĐÁNH GIÁ TÌNH TRẠNG
CÁC LOÀI ĐƯA VÀO SÁCH ĐỎ IUCN
(The IUCN Red List of Threatened Animals)
Tổ chức bảo tồn thiên nhiên thế giới (Intemational Union of Conservation
of Nature and Natural resources - IUCN) và trung tâm giám sát bảo
tồn quốc tế (World Conservation Monitoring Center- WCMC) đã xây
dựng những quy định vế tình trạng các loài có nguy cơ tuyệt chủng
và các danh mục xếp mục đe doạ của các loài. Sự xếp bậc này căn
cứ vào các dữ liệu về phân loại học (Taxonomy), tình trạng quần
thể (Population status), xu hướng quần thể (Population trends),
sự phân bố (Distribution), tình trạng sinh cảnh (Habitat availability),
xu hướng địa lý (Geographic trends) và các mối đe doạ (Threats)
và tham khảo ý kiến của các chuyên gia phân loại học, các chuyên
gia về các họ động vật riêng biệt của IUCN và của các nhà khoa học
các nước. Sự xếp bậc này cũng xem xét tình hình pháp luật liên quan
của các nước có loài trên phân bố.
Trong khi điều tra xác định tình trạng các loài, IUCN luôn xem
xét lại các thông tin cũ, cập nhật 2 năm một lần và phổ biến rộng
rãi. IUCN còn nghiên cứu để sửa nội dung và nguyên tắc xác định
tình trạng các loài để đáp ứng những đòi hỏi mới. Năm 1994, IUCN đã sử dụng một số nguyên tắc mới để xác định tình trạng các loài
bị đe dọa. Năm 1996, danh mục mới được bổ xung những chi tiết cụ
thể về tình trạng các loài và phân chia theo các cấp độ sau:

EXITINCT (EX) Tuyệt chủng
Một loài hoặc phân loài bị coi là tuyệt chủng khi có những bằng
chứng chắc chắn rằng cá thể cuối cùng đã chết
EXITINCT IN THE WILD (EW) Tuyệt
chủng trong tự nhiên
Một loài hoặc phân loài bị coi là tuyệt chủng trong tự nhiên khi
các cuộc khảo sát kỹ lưỡng ở sinh cảnh đã biết và hoặc sinh cành
mong muốn, vào những thời gian thích hợp (theo ngày, mùa năm) xuyên
suốt vùng phân bố lịch sử của chúng đều không nghi nhận được cá
thể nào. Các khảo sát nên vượt khung thời gian thích hợp cho vòng
sống và dạng sống của đơn vị phân loại đó.
CRITICAL ENDANGERED (CE) Cực kỳ
nguy cấp
Một loài hoặc phân loài được gọi là (Cực kỳ nguy cấp) khi nó phải
đối mật với nguy cơ tuyệt chủng trong tự nhiên rất cao trong một
tương lai rất gần .
ENDANGERED (EN) Nguy cấp
Một loài hoặc phân loài bị coi là (Nguy cấp) khi nó phải đối mặt
với nguy cơ tuyệt chủng trong tự nhiên rất cao trong một tương lai
rất gần nhưng kém hơn mức Cực kỳ nguy cấp.
VULNERABLE (VU) Sắp nguy cấp
Một loài hoặc phân loài bị đánh giá là (Sắp nguy cấp) khi nó không
nằm trong 2 bậc CR và EN nhưng phải đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng
trong tự nhiên cao trong một tương lai không xa.
Cả 3 loại CR, EN, VU đều có thể gọi chung là những loài hoặc phân
loài bị đe doạ và có nguy cơ tuyệt chủng trong tự nhiên cao.
LOWER RISK (LR) ít nguy cấp
Một loài hoặc phân loài bị đánh giá là (ít nguy cấp) khi tình trạng
của nó không thoả mãn những tiêu chuẩn của bất cứ bậc nào trong
những bậc trên. Các loài hoặc các phân loài thuộc hạng mục ít nguy
cấp có thể chia thành 3 hạng mục nhỏ hơn như sau:
CONSERVATION DEPENDENT (CD) Phụ
thuộc bảo tồn.
Các loài hoặc phân loài là những đối tượng của một chương trình
bảo tồn đang được thực hiện bao gồm một sinh cảnh cụ thể hoặc bậc
phân loài cụ thể mà sự chấm dứt của chương trình đó có thể dẫn tới
việc các đơn vị phân loài này được xếp vào một trong hạng mục bị
đe doạ nêu trên trong một khoảng thời gian 5 năm.
NEAR THREATEN (NT) Sắp bị đe dọa.
Các đơn vị phân loại không được xếp vào diện Phụ thuộc bảo tồn,
nhưng đủ tiêu chuẩn để xếp vào bậc Sắp nguy cấp.
LEAST CONCERN (IC) ít quan tâm.
Các đơn vị phân loài không đủ tiêu chuẩn để xếp vào loài Phụ thuộc
bảo tồn hoặc Sắp bị đe dọa.
DATA DEFICIENT (DD) Thiếu dữ liệu
Một đơn vị là Thiếu dữ liệu khi không có thông tin thích hợp để
đánh giá trực tiếp hoặc gián tiếp nguy cơ tuyệt chủng của nó dựa
trên sự phân bố hoặc tình trạng quần thể của chúng. Một đơn vị phân
loại trong hạng mục này có thể được nghiên cứu kỹ, sinh học của
nó được biết rõ nhưng thiếu các dữ liệu về độ phong phú hoặc dự
phân bố của chúng. Do đó Thiếu dữ liệu không phải là hạng mục Bị
đe dọa hay ít nguy cấp. Việc lập danh sách của của các đơn vị phân
loại trong hạng mục này chỉ ra rằng cần phải thu thập thêm thông
tin và thừa nhận khả năng là nghiên cứu trong tương lai sẽ cho tấy
việc phân cấp đe dọa là thích hợp. Điều quan trọng là cần sử dụng
tích cực bất cứ dữ liệu nào có sẵn. Trong nhiều trường hợp phải
rất cẩn thận khi lựa chọn giữa tình trạng Thiếu dữ liệu (DD) và
Bị đe dọa. Nếu vùng phân bố của một đơn vị phân loại bị nghi là
tương đối hạn chế, nếu một khoảng thời gain đáng kể đã trôi qua
kể từ lần ghi nhận cuối cùng của đơn vị phân loại này, thì nên xếp
vào tính trạng Bị đe dọa.
NOT EVALUATED (NE) Không được đánh
giá
Một đơn vị phân loại được coi là không được đánh giá khi nó chưa
được đánh giá dựa trên các tiêu chuẩn đề ra.
|