|
New Page 2
CẦY VÒI MỐC
Paguma larvata
(H. Smith, 1827)
Họ: Cầy
Viverridae
Bộ: Ăn thịt
Carnivora
Đặc điểm nhận dạng:
Cầy vòi mốc có
kích thước lớn, trọng lượng 6 - 9 kg,
dài thân 650 - 75mm, dài đuôi 535 - 660mm. Lông trên thân. Nửa đùi trên, nửa
đuôi trong màu vàng xám. Bụng vàng xám. Nửa đùi dưới phần đuôi ngoài đen. Có một
sọc trắng bắt đầu từ mũi đi qua giữa đầu và đến gáy, má màu trắng nhạt. Có đốm
trắng ở góc tai và dưới mi mắt. Con đực có tuyến xạ giữa hậu môn và bộ phận sinh
dục ngoài.
Sinh học, sinh thái:
Đây là loài sống chủ yếu ở
rừng, đặc biệt là rừng gỗ có nhiều cây và dây leo có nhiều quả ăn được. Làm tổ
trong gốc cây. Sống đơn, hoạt động kiếm ăn đêm (từ chập tối đến nửa đêm).
Leo trèo giỏi, có thể nhảy từ cành này sang cành khác ở cự ly 2m hoặc nhảy từ
trên cao 6 - 7m xuống đất chính xác. Tính bạo dạn, ít phát ra tiếng động khi
kiếm ăn.
Cầy vòi mốc ăn chủ yếu là
quả cây rừng trong họ Dâu tằm Moraceae, Bồ hòn
Sapindaceae,
Trám Burceraceae, Thầu dầu
Euphorbiaceae,
Sến Sapotaceae. Vào các tháng hiếm quả cây rừng, Vòi mốc còn ăn cả côn
trùng, cánh cứng, nhái, chuột (Phạm Nhật, 1982). Cầy vòi mốc động dục vào
tháng 3 đến tháng 4, mang thai 1,5 đến 2 tháng, đẻ vào tháng 5 - 6. Mỗi năm đẻ
một lứa, mỗi lứa đẻ 2 - 4 con. Cầy mẹ làm tổ đẻ cẩn thận trong các hốc cây. Con
đẻ ra yếu, chưa mở mắt.
Phân bố:
Trung Quốc, Đài Loan, Việt
Nam, Lào, Thái Lan, Mianma, Assam, Nêpan, Malaixia, Sumatra, Boneo.
Ở
nước ta cầy vòi mốc phấn bố khắp các tỉnh có rừng.
Tình trạng:
Số lượng hiện nay không còn
nhiều, việc khai thác rừng thiếu kiểm soát ở nước ta đang bị suy thoái, dẫn đến mất nơi sống của chúng.
Cần bảo vệ và không cho phép săn bắn loài này.
Cần sớm đưa loài động vật này vào sách đỏ.
Tài liệu dẫn:
Động vật rừng - Phạm Nhật - trang 176.
|
|